Du học Nhật Bản: ĐỪNG NHẮC TỚI ÂM HÁN VIỆT VỚI NGƯỜI NHẬT

Du học Nhật Bản: ĐỪNG NHẮC TỚI ÂM HÁN VIỆT VỚI NGƯỜI NHẬT

ĐỪNG NHẮC TỚI ÂM HÁN VIỆT VỚI NGƯỜI NHẬT! vì họ không thể hiểu được là cái gì đâu! Có nhiều bạn du học sinh khi qua Nhật bản có chat với ad, nói về việc học Kanji khi sang Nhật với học ở nhà với các cô người Việt nó khác nhau quá! “Cái gì gọi là bộ chữ – Nhật không dùng; Nó dùng bằng tiếng Nhật nhưng các cô Việt cứ dạy tiếng Hán; Bộ xước là bộ gì sang đây nói cô Nhật cũng không biết…”

Ad xin chia sẻ ý kiến của mình cũng như một vài thông tin tham khảo được như sau: Để hiểu một hiện tượng ,sự vật trong cuộc sống, cách tốt nhất chính là hiểu chính tên gọi của chính nó. Muốn hiểu rõ tên gọi của nó, thì nên phân tích từng từ ngữ cấu thành. Vì thế với những người học tiếng Nhật, nên cần học từ Hán Việt và cả nghĩa của từ Hán trong tiếng Nhật, vì đây là bí kíp luyện Kanji mà chỉ người Việt Nam mới có, và chỉ có người Việt mới truyền được cho nhau.

Các nước lân cận với Trung Quốc như Triều Tiên có cách đọc riêng của người Triều Tiên, gọi là Hán-Triều (漢朝); người Nhật có cách đọc riêng của người Nhật, gọi là Hán-Hoà (漢和); người Việt có cách đọc của mình gọi là Hán-Việt (漢越). Những từ Hán được du nhập đã được Việt hóa tương đối, hoặc là để làm phong phú nguồn từ vựng cho tiếng Việt cổ dùng trong dân gian, lúc đó người dân dã không được đi học còn dùng tiếng Việt cổ và chưa có chữ viết (hoặc là một số ít có thể dùng chữ Nôm). Cách đọc Hán Việt gắn liền với việc sử dụng văn tự: ban đầu là văn tự Hán, sau là chữ Hán và chữ Nôm và cuối cùng là ghi bằng chữ quốc ngữ.

Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn mà người Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình. Cách đọc đó được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay. Ví dụ: trà, mã, trọng, khinh, vượng, cận, nam, nữ…Các từ gốc Hán nói chung và từ Hán Việt nói riêng, có vị trí rất đặc biệt trong từ vựng tiếng Việt. Chúng có số lượng rất lớn và năng lực sản sinh rất mạnh. Chúng ra nhập vào mọi lĩnh vực giao tiếp của đời sống người Việt: chính trị, văn hoá, khoa học, kĩ thuật, quân sự, ngoại giao, y tế, pháp luật… Điều này không có gì lạ, bởi vị trí và quá trình tiếp xúc lâu đời giữa tiếng Hán với tiếng Việt tất dẫn đến kết quả đó.

ví dụ như khi bạn học từ KẾT HÔN(結婚 – けっこん) được ghép bởi 2 chữ KẾT (結) và HÔN(婚) thì chỉ cần biết âm Hán Việt là bạn đã có thể hiểu được nó nghĩa là gì.

hay như bộ THỦY(氵), khi gặp Kanji có bộ này thì chúng ta có thể hiểu ngay rằng Kanji đó có liên quan đến nước, ví dụ như OSAKE – rượu (お酒), KAWA – sông(河)…

một điểm lợi nữa của những bạn đã quen với âm HÁN – VIỆT đó là khi không biết từ vựng mình muốn nói là gì thì có thể vận dụng kiến thức đã có để đoán từ, ví dụ: các bạn đều biết âm “L” trong tiếng Nhật sẽ phát âm thành “R”, vậy LY HÔN sẽ là gì? đơn giản thôi – KẾT HÔN là KEKKON(結婚 – けっこん) thì LY HÔN hẳn là RIKON(離婚 – りこん)rồi!

Học ở Nhật thì lại càng không bao giờ học cái này, vì người Nhật đâu có sự đúc kết tinh hoa của âm Hán mà chỉ người Việt trải qua bao đời tiếp nhận, đúc kết, vận dụng… mới có được!

Akichan@Viet-SSE (Nhật ngữ Vietsse)

Xem thêm bài viết liên quan
Xem thêm các chủ đề: , , , ,

Bài viết cùng danh mục