Geisha – Con người của nghệ thuật

Nếu nhắc đến văn hóa Nhật Bản, nhiều người hẳn sẽ nghĩ ngay đến nền ẩm thực cực kỳ phong phú và tinh tế, bộ trang phục cổ truyền Kimono nửa kín nửa hở, những chàng ninja bí ẩn hay những Samurai trung thành. Nhưng với tôi, Geisha mới là những nét thú vị gợi trí tò mò nhất khi tìm hiểu về nền văn hóa đặc sắc của đất nước Phù Tang.

Geisha, theo tiếng Nhật, có nghĩa là nghệ giả, gei là thuộc về nghệ thuật và sha là người, từ ghép geisha có nghĩa là người của nghệ thuật. Họ được đào tạo nhiều kĩ năng truyền thống như múa cổ điển (nihon buyoh), hát, sử dụng các nhạc cụ Shamisen, cắm hoa (ikebana), thêu kimono, trà đạo (sadoh), thư pháp (shodoh), thơ ca, giao tiếp, phong cách hầu rượu và nhiều kĩ năng khác. Như thế chẳng phải, Geisha chính là sự tổng hòa của cả nền văn hóa Nhật Bản hay sao? Nếu nói Geisha chính là đại diện cho văn hóa truyền thống Nhật Bản, thật chẳng sai chút nào.

[Bài viết xuất sắc nhất] Geisha – Con người của nghệ thuật

Geisha chính là đại diện cho văn hóa truyền thống Nhật Bản.

Thời hoàng kim của các Geisha cũng chỉ rơi vào khoảng hơn 100 năm trước đây, ở thời Meji của Nhật Bản. Đó là thời kỳ mà Geisha được coi là một nghề cao quý, và được cả xã hội trọng vọng. Số lượng Geisha đã có lúc lên đến 250.000 người
Tuy nhiên, Geisha có lẽ chỉ còn là một nét văn hóa truyền thống ẩn chứa nhiều bí mật và cả sự nuối tiếc mà thôi. Có một sự thật đáng buồn là nét văn hóa đặc sắc này đang dần bị phai nhạt, thậm chí là chịu cách nhìn lệch lạc của xã hội.

Geisha có được coi là gái mại dâm?
Vẫn có một số nhầm lẫn, đặc biệt ở bên ngoài Nhật Bản, về bản chất của nghề Geisha. Vấn đề này đã bị làm cho thêm phần rắc rối bởi gái mại dâm Nhật, đặc biệt tại các bể tắm onsen, những người muốn bám vào hình ảnh ưu thế của Geisha bằng cách tự quảng cáo với các khách du lịch (cả người Nhật và người nước ngoài) rằng mình là “Geisha”. Các miêu tả không chính xác về Geisha trong văn hóa đại chúng phương Tây, chẳng hạn trong tiểu thuyết và bộ phim Hồi ức của một Geisha (Memoirs of a Geisha), cũng góp phần gây ra các hiểu nhầm về Geisha.

[Bài viết xuất sắc nhất] Geisha – Con người của nghệ thuật

Hồi ức của một Geisha.

Theo truyền thống, Geisha không được kết hôn (hoặc khi kết hôn thì phải kết thúc sự nghiệp), tuy việc họ có con không phải là chuyện đặc biệt. Mặc dù nhiệm vụ của Geisha thường bao gồm cả tán tỉnh và đùa cợt khêu gợi, nhưng họ không bao giờ có quan hệ tình dục với khách hàng và không được trả tiền cho hoạt động đó. Tuy nhiên, một số Geisha có thể quyết định quan hệ với một trong những nhà bảo trợ hoặc khách quen (patron) của mình bên ngoài thời gian làm việc với vai trò Geisha. Và vì những mối quan hệ đó có liên quan đến việc một khách hàng có khả năng trả tiền để được hưởng các phục vụ truyền thống của một Geisha, người ta có thể lập luận rằng đây chẳng qua chỉ là một hình thức mại dâm bị bóp méo.

Nhưng sự thật là gì?

Nếu bạn gõ vào Google cụm từ Geisha thì định nghĩa đầu tiên hiện lên sẽ là: “Một người phụ nữ Nhật Bản được đào tạo để mua vui cho đàn ông bằng việc tiếp chuyện, hát và nhảy múa”. Geisha thực chất cũng chỉ là một nghề nghiệp để kiếm sống, và với tôi, đó là một nghề cao quý, vì những người phụ nữ này được đào tạo để mang lại niềm vui cho nhiều người khác.
Những hiểu lầm về Geisha có lẽ cũng một phần đến từ sự bí ẩn của họ. Nhưng thực tế thì, sự bí ẩn của các Geisha cũng là có ý đồ. Trong quá trình được đào tạo, một Geisha thường ẩn danh hết mức có thể. Điều này giúp tạo thêm sức hút kỳ bí cho một Geisha.

[Bài viết xuất sắc nhất] Geisha – Con người của nghệ thuậtSự bí ẩn của các Geisha cũng là có ý đồ.

Nhiều cô geisha nổi danh, được chiêm ngưỡng, ái mộ ngang hàng các siêu sao màn bạc bây giờ, tuy vậy đời sống của các cô vẫn là môt bí mật. Geisha là một thế giới riêng, cách biệt, có quy luật, hệ thống điều hành riêng rẽ, và quần chúng Nhật tôn trọng sự cách biệt này. Không có điều luật nào ngăn cấm các cô kể chuyện, nhưng như được hiểu ngầm, các cô geisha sau khi về hưu, chôn chặt quá khứ, giữ im lặng cho đến hết đời.

Một vài nét so sánh giữa ả đào ở Việt Nam và geisha Nhật Bản

Tuy không có quan hệ tiếp biến văn hóa, nhưng điều thú vị là khi nói đến ả đào Việt Nam, người ta có tâm lý liên tưởng đến nàng geisha Nhật Bản và ngược lại.

Với khái niệm ả đào và khái niệm geisha, hai dân tộc Việt – Nhật có chung một cách hiểu, đó là cách gọi biểu trưng cho cái đẹp, biểu tượng của văn hóa nghệ thuật dân tộc. Người Việt Nam hình dung geisha như một ả đào Nhật Bản, và có lẽ, để hiểu khái niệm ả đào, người Nhật sẽ cho rằng đó là geihsa Việt Nam.

Geisha (tiếng Nhật: nghệ giả – con người của nghệ thuật) là người nghệ sĩ vừa có tài ca múa nhạc, lại vừa có khả năngphục vụ nhu cầu văn hóa truyền thống Nhật Bản (trò chuyện, trà đạo, cắm hoa, thư pháp…). Trong lịch sử, geisha là một nghề khởi đầu là nam giới, song, do tính tất yếu của nghề nghiệp và tâm lý nhìn nhận của xã hội, người ta vẫn nghĩ geihsa là nữ nghệ giả, chỉ đề cập đến geihsa nữ – như một đối trọng so sánh với ả đào Việt Nam.

Ả đào là tên gọi (cổ xưa nhất) đã có từ đời Lý Thái Tổ (TK XI), theo truyền thuyết về Đào thị có nhan sắc, giỏi ca hát được vua khen tặng, nên dân gian gọi ca nương hát ca trù là ả đào nhằm chỉ người con gái đẹp, hát hay. Từ đây, ta có nội hàm của khái niệm: ả đào là chức danh của một nữ nghệ nhân hát ca trù, còn được gọi cô đầu. Từ cô đầu thì có người cho là cô đào bị nói trệch đi ( là chữ nho có nghĩa là cô, ả đào có nghĩa là cô đào). Đỗ Trọng Huề thì cho là chữđầu ám chỉ tiền hoa hồng (tiền đầu) mà các cô ca sĩ phải trả cho thày dạy hát của mình. Cô đầu lại cũng thường được dùng để chỉ những cô ca sĩ có nhiều học trò. Cô đầu thoát thai từ ả đào. “Tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng, tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng bậc danh ca”.

Lịch sử ra đời của ả đào trước geisha đến ba thế kỷ nhưng khách của ả đào – nhà nho tài tử lại ra đời muộn hơn khách của geisha – tăng lữ và võ sĩ cũng ngần ấy thời gian. Nhà nho tài tử Việt Nam đến muộn mà còn ra đi sớm hơn võ sĩ Nhật. Nguyên nhân là do lịch sử phong kiến Nhật là một vương triều độc lập, đã sớm có những thành tựu văn hóa từ thời Heian (794-1192) – văn hóa của quý tộc, đến giai đoạn nội chiến của các lãnh chúa (1185-1603) tạm gọi là thời trung đại – văn hóa của các tu sĩ và võ sĩ.

Còn Việt Nam, sau 1000 năm Bắc thuộc, những triều đại được gọi là thịnh chỉ mới bắt đầu từ Lý – Trần (1010-1400), sau là Lê – Nguyễn (TK XV – cuối TK XIX). Sự ra đời của nhà nho tài tử gắn liền với sự phát triển của đô thị, mà ở Việt Nam do tình hình chiến tranh liên miên nên đô thị phát triển không mạnh và không liên tục. Vì thế tầng lớp thị dân Việt Nam cũng ra đời muộn hơn Nhật Bản.

Như vậy, về mặt lịch đại, ả đào có lịch sử hình thành sớm hơn geisha rất nhiều. Nhưng xét về mặt đồng đại thì văn hóa đô thị của ả đào xuất hiện muộn và kết thúc sớm hơn geisha. Sự chênh lệch này ảnh hưởng lớn đến văn hóa ứng xử trong tiếp biến văn hóa của hai hình tượng này.

Không gian của ả đàogiáo phườngca quán. Giáo phường là trường dạy nhạc, ca quán là nhà hát, về sau các ca quán kiêm luôn chức năng vừa đào tạo vừa kinh doanh nghề hát như nhà geisha. Nhà geisha còn đặc biệt hơn ca quánở chỗ, nó được xây dựng theo mô hình kiến trúc nhà Minh – dành riêng cho việc ăn chơi, hưởng lạc. Các geisha tập trung hầu hết ở Kyoto, một cố đô với hình ảnh lặng lẽ, huy hoàng của một quá khứ, và thủ đô Tokyo với nhịp sống sôi động, ồn ào của xã hội công nghiệp. Các nàng sống tập trung tại một vài khu phố, người Nhật gọi là hanamachi (hoa nhai). Geisha thành phố (machi geisha) hoạt động tự do tại các buổi tiệc bên ngoài các khu phố giải trí, trong khi các geisha khu phố (kuruwa geisha) giải trí cho khách trong các buổi tiệc ở các khu phố giải trí.

Nhưng xét riêng từng khía cạnh, sự khác biệt cơ bản giữa ả đào và geisha là chủ thể văn hóa: một bên là văn hóa làng xã và văn hóa quý tộc phong kiến, còn một bên là văn hóa thị dân. Nguyên nhân là do sự khác biệt về giai cấp giữa ả đào và geihsa. Ả đào xuất thân từ giai cấp nông dân. Trong sinh hoạt đời thường của con nhà nông, ả đào ban ngày làm ruộng vườn hoặc chăn tằm dệt vải. Đến tối họ tới giáo phường để luyện tập đàn hát do quản giáp và mấy ả đào già nhiều kinh nghiệm chỉ bảo. Geisha xuất thân từ tầng lớp thị dân. “Con nhà gia thế sa cơ dấn thân vào chốn xa mã công khanh. Họ có giao ước với mụ chủ thời hạn làm việc, họ được tự do, không có một thế lực gì bắt họ phải theo ý muốn người khác được, ở phòng trà ấy, họ được giáo dục hoàn hảo”(3). Nhiều giesha nhận được sự nâng đỡ từ những gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu, các dòng họ nổi tiếng.

Từ khác biệt cơ bản trên, ta hiểu văn hóa ả đào có nguồn gốc từ văn hóa tín ngưỡng tôn giáo dân gian, từ một nghệ nhân chuyên hát thờ ở đình làng về sau mới trở thành một cô đầu chuyên phục vụ giải trí cho quý tộc, trí thức. Trong khi đó, văn hóa geisha chỉ thuần túy là văn hóa giải trí, không dính dáng gì đến tín ngưỡng tôn giáo.

Song, ả đào và geisha đều tương đồng ở chỗ cả hai có một đời sống văn hóa theo những quy phạm nhất định. Họ bị cấm ăn mặc khó coi, phải mặc cùng một kiểu trang phục, tóc chải theo một kiểu đồng nhất, chỉ phục vụ những nhóm khách vài ba người và không bị ép buộc phải tiếp người khách nào mà họ không thích. Được yêu quý, trọng vọng, nhưng theo quy luật của nghề nghiệp, họ phải chôn chặt những khát khao thầm kín, ngay cả tình yêu trong thế giới đầychuẩn mực.

Vấn đề mặc quốc phục cũng là một biểu hiện giữ gìn bản sắc của ả đào và geisha. Ngoài nghệ thuật, hình thức cũng là một cách thể hiện văn hóa cổ truyền: người hát trong trang phục truyền thống sẽ khác biệt rất nhiều so với người hát ăn mặc Âu phục.

Văn hóa tận dụng của geisha là tiếp thu các lợi thế của văn hóa Âu – Mỹ và phát huy nghệ thuật truyền thống để thu hút khách, phô trương sự lịch lãm, sang trọng. Chương trình Tokyo Rose thời Thế chiến II dùng giọng nữ tuyệt vời đã làm chao đảo tinh thần quân đồng minh. Kiharu Nakamura, một geisha nổi tiếng nhất với biệt danh geisha duy nhất nói được tiếng Anh, trở thành cầu nối về văn hóa giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. nhiều nghệ sĩ và ngôi sao thể thao thế giới đã từng thưởng thức tài nghệ múa hát của Kiharu. Bà cũng chính là nguồn cảm hứng để Cocteau viết nên bài thơ Geisha.

Ở Việt Nam, không có văn hóa tận dụng này, nguyên nhân chính là do tầng lớp trí thức theo xu hướng hoài cổ không nhiều. Những năm sau 1945, Mỹ ném bom vào xóm Khâm Thiên (Hà Nội), Nguyễn Tuân đã gọi đó là “hành động cư xử thô bạo với tiếng hát ả đào”. Suốt những năm chiến tranh chống Mỹ, tiếng hát ả đào tưởng bị lãng quên, thập niên 80 (TK XX), tiếng hát ả đào mới được Trần Văn Khê giới thiệu ra quốc tế, đào nương Quách Thị Hồ mang vinh quang về cho đất nước với bằng danh dự của UNESCO, các nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học trên thế giới bắt đầu bị mê hoặc bởi giọng ca độc đáo này. Có thể nói, ca trù được thế giới biết đến nhờ tiếng hát ả đào Quách Thị Hồ trực tiếp hoặc gián tiếp qua đĩa CD đầu tiên mà UNESCO phát hành có tên ca trù.

Phản ứng cá nhân trước thời cuộc, các ả đào Việt Nam chọn con đường mai danh ẩn tích, đi làm thuê… trở về với công việc nhà nông là nguồn gốc xuất thân của họ. Trong nhận thức, ả đào hành động theo cảm tính phụ nữ Việt Nam giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Lịch sử đã ghi nhận những chiến công của các ả đào như nàng ca nhi Đào Đặng lập mưu giết giặc Minh, các ả đào hạt Quảng Yên phá súng thần công giặc (10)… Còn geisha thì không tham gia chiến đấu, nhưng họ nhận thức bằng lý trí. Họ biết phát huy ưu điểm là sự cầu kỳ, giỏi thích nghi, khéo chiều chuộng, xa xỉ, khó gần (chỉ có giới quý tộc và doanh nhân mới trả nổi cái giá rất đắt để được gặp geisha). Nhưng điều đó lại càng khiến geishatrở nên hấp dẫn tính hiếu kỳ của mọi người hơn. Văn hóa Nhật còn cho geisha cái đặc quyền được lựa chọn đối tượng phục vụ. Vì người Nhật ưa thực tế hơn và sẵn sàng dẹp bỏ tính tự tôn để thích nghi với tình huống mới. Lối ứng xử này mang đặc trưng rất geisha.

Văn hóa ả đào và văn hóa geisha là hiện tượng có thật, đã từng tồn tại trong lịch sử hai nền văn hóa Việt – Nhật. Đó là văn hóa giải trí, hiểu đơn giản là hình thức mượn tiếng mỹ nhân để thưởng ngoạn nghệ thuật.

Là hiện tượng văn hóa nghệ thuật, đồng thời cũng là hiện tượng xã hội, Ả đào và geisha vừa sống trong môi trường chính trị xã hội hiện hữu vừa sống trong môi trường văn hóa dân tộc, trở thành hình tượng văn hóa của mỗi quốc gia.

Cần phân biệt rõ sự lựa chọn nào của ả đào và geisha là văn hóa và sự lựa chọn nào là phi văn hóa… để có cái nhìn khách quan và nhân văn khi đánh giá ả đào và geisha. Từ đó, hai bên có cách quản lý văn hóa tích cực, giúp phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc.

Hiện tại ở Việt Nam và Nhật Bản còn rất ít những ả đàogeisha thực thụ có được thành công như những gì mà tổ nghề của họ đã gây dựng nên. Thế giới văn hóa tao nhã của ả đào và geisha đang có xu hướng bị thu hẹp, ít mang tính truyền thống hơn để thay vào đó những hình thức giải trí phục vụ số đông. Cũng ít ai bận tâm đến văn hóa truyền thống của hai hình tượng này còn gì là bản sắc, có gì là tiếp biến văn hóa hay không. Chính vì vậy, nét sâu sắc, ý vị của ả đàonét huyền bí của geisha cần phải được khai thác ở nhiều góc độ.

Tìm hiểu về Geisha cũng giống như tìm hiểu về cả một nền văn hóa đồ sộ của đất nước mặt trời mọc. Đó là một cái gì đó vừa thanh cao, bí hiểm, nhưng cũng rất gần gũi và tuyệt đẹp. Với tôi, Geisha không chỉ là một kỹ nữ, đó chính là con người của nghệ thuật, con người đại diện cho cả nền văn hóa Nhật Bản mà tôi vô cùng yêu thích…

Nguồn vanhoanhat.com

Xem thêm bài viết liên quan
Xem thêm các chủ đề:

Bài viết cùng danh mục