Manga và Anime

 Manga (tiếng Nhật: kanji: 漫画, hiragana: まんが, katakana: マンガ, Hán-Việt: mạn họa) là một cụm từ trong tiếng Nhật để chỉ các loại truyện tranh và tranh biếm họa. Manga được xem là từ đặc biệt để chỉ riêng truyện tranh xuất phát từ Nhật Bản. Vào năm 2007, manga chiếm lĩnh một thị trường toàn cầu nhiều tỷ đôla. Manga phát triển từ ukiyo-e theo kiểu vẽ tranh. Nó phát triển nhanh chóng sau thế chiến thứ 2.


Manga (tiếng Nhật: kanji: 漫画, hiragana: まんが, katakana: マンガ, Hán-Việt: mạn họa) là một cụm từ trong tiếng Nhật để chỉ các loại truyện tranh và tranh biếm họa. Manga được xem là từ đặc biệt để chỉ riêng truyện tranh xuất phát từ Nhật Bản. Vào năm 2007, manga chiếm lĩnh một thị trường toàn cầu nhiều tỷ đôla. Manga phát triển từ ukiyo-e theo kiểu vẽ tranh. Nó phát triển nhanh chóng sau thế chiến thứ 2. Manga được hầu hết các hạng người đọc ở Nhật. Từ Manga-ka tương ứng với Hoạ sĩ truyện tranh, người chuyên về viết vẽ manga. Do hầu hết các danh từ trong tiếng Nhật không ở dạng số nhiều nên manga có thể dùng để chỉ nhiều loại truyện tranh, đôi khi trong tiếng Anh cũng được viết là mangas.


Manga (viết kiểu kanji từ Seasonal Passersby (Shiki no Yukikai), 1798, vẽ bởi Santō Kyōden và Kitao Shigemasa
  • 1 Lịch sử
  • 2 Các thể loại chính
  • 3 Manga trên toàn thế giới
  • 4 Doanh thu
  • 5 Hình thức phân bố
  • 6 Đánh giá
  • 7 Xem thêm
  • 8 Liên kết ngoài
Lịch sử

Lịch sử manga bắt đầu từ rất sớm. Ở Nhật, người dân đã sớm có hứng thú với một loại nghệ thuật về tranh ảnh (sau này là manga) Manga thời kì này vẫn chỉ đơn giản là những dải truyện tranh ngắn. Tuy vậy, giá trị giải trí của nó là điều không ai có thể phủ nhận. Không những thế, manga còn giữ một vị trí quan trọng và đầy quan trọng xuyên suốt lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ VI và VII, những vị thầy tu đã sử dụng những cuộn giấy da có khắc hình như một loại lịch cho việc theo dõi thời gian. Những cuộn giấy này bao gồm những ký hiệu biểu tượng đại diện cho thời gian, và thường được trang trí bằng hình ảnh động vật như cáo, gấu trúc,… với những cử động y như người(được gọi là giga,hay chính xác hơn là choju-jinbutsu-giga tranh vui về thú vật và con người).Đây có thể được coi là tiền đề của Manga.
Đến cuối thế kỉ XVIII thì thuật ngữ "manga" mới thật sự được dùng để chỉ loại hình nghệ thuật này với sự xuất hiện của các tác phẩm đầu tiên như "Mankaku zuihitsu” của Suzuki Kankei, tập tranh “Shijino Yukikai” của Santo Kyoden. Đến đầu thế kỉ XIX, có “Manga hyakujo” của Aikawa Minwa cùng tuyển tập tranh Houkusai (manga được tổng hợp và phân loại từ những tác phẩm của nghệ sĩ tranh gỗ màu nổi tiếng Houkusai).

Một câu chuyện kami-shibai kể về Sazae-san của Machiko Hasegawa.

Thuật ngữ Manga được hoàn thiện bởi nghệ nhân Hokusai (đây không phải là tên thật), một họa sĩ sống với triết lý hội họa hoàn toàn khác so với nền nghệ thuật này lúc bấy giờ. Với tính cách đôi phần nổi loạn, Hokusai được biết đến với việc sẵn sàng cãi lại thầy giáo của mình, liên tục thách thức những phương pháp làm việc của họ. Về sau, ông tự tạo ra khoảng 30.000 tác phẩm, một vài trong số đó tập trung thành những tuyển tập hoặc sách đem đi xuất bản.
Theo Hokusai, "manga" không phải là nghệ thuật vẽ nhân vật trong một câu chuyện nào đó, hay là chú ý tỉ mỉ đến từng chi tiết một để có thể tạo ra những bức họa có tính giải trí và đầy ý nghĩa. Thay vào đó, thuật ngữ "manga" (mà theo nghĩa đen có thể dịch là "bức tranh kỳ quái") được Hokusai dùng để chỉ phương pháp vẽ một bức tranh dựa theo nét bút đưa hoặc vẽ vài vật chất lướt ngang trang hoàn toàn theo ngẫu hứng (điều này giải thích chữ "kỳ quái"). Tuy chúng hầu hết đều trở thành những bức tranh phong cảnh, người dân Nhật lại nhận ra, ẩn trong những nét vẽ thiên nhiên thoải mái nhưng rất chi tiết ấy, một cái gì đó khác hẳn với những bức họa trước đó, khi mà những người họa sĩ phải nhận thức được họ muốn vẽ gì trước khi đặt bút xuống. Lối tiếp cận vấn đề một cách tự nhiên của Hokusai, mặc dù có thể chính ông cũng không nhận ra điều đó, đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự đa dạng của các mangaka hiện nay : họ không gắn mãi với một công thức nào mà luôn hướng theo những loại hình nhân vật, những cốt chuyện khác nhau.Tuy nhiên, cho dù Hokusai đã tạo ra một bước đột phá mới bằng phong cách vẽ tranh này (một trong những phong cách ông sử dụng), những cuốn truyện "manga" thực sự đầu tiên vẫn chưa xuất hiện cho đến tận đầu thế kỷ XX.
Bước vào thế kỷ XX, cánh cửa ngoại giao Nhật Bản một lần nữa mở ra thế giới.Một trong số đó, những “dải truyện tranh ngắn”cũng được du nhập, trở thành chất xúc tác làm nên manga, một bộ phận thống trị của thị trường xuất bản Nhật hiện nay.Manga thời kỳ này được gọi là Ponchi-e.Nhật bắt đầu cho xuất bản những tờ tạp chí với nội dung biếm họa với độ dày từ 1-4 trang,đồng thời thuê những họa sĩ nước ngoài để dạy cho học sinh của họ về đường nét,màu sắc ,dáng điệu.

Cách đọc Manga truyền thống ở Nhật Bản.

Trong thời gian chiến tranh, truyện tranh Nhật và tranh biếm hoạ được sáng tác nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Chúng có tính hài hước, tính giải trí, cũng như những truyện phương Tây, nhưng đồng thời chúng cũng được sử dụng với mục đích tuyện truyền hoặc châm biếm nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, cổ vũ tinh thần binh lính. Tuy nhiên, dưới thất bại nặng nề dưới tay quân Đồng minh vào cuối chiến tranh thế giới lần II, rất nhiều truyện tranh Nhật phải chịu sự kiểm duyệt nặng nề của phe chiến thắng, và sự phát triển của cái sẽ trở thành “manga” Nhật Bản dường như bị hoãn lại vô thời hạn.
May mắn thay, sau khi chiến tranh kết thúc, đã có một người đứng lên vực dậy nền nghệ thuật manga, đem đến cho nền văn hóa Nhật và đến thế giới, một thể loại manga hoàn toàn mới. Con người đó, Osamu Tezuka (với việc áp dụng phong cách vẽ của hoạt hình Disney và kỹ thuật điện ảnh của Đức và Pháp) đã góp phần định hình nên kiểu mẫu manga thực sự đầu tiên, và bắt đầu một nền công nghiệp mà đến giờ vẫn giữ vị trí chiến lược trong nền văn hóa Nhật Bản hiện đại.

Các thể loại chính

Một cậu bé đang đọc truyện Black Cat trong một hiệu sách ở Hoa Kỳ.


Manga gồm các thể loại chính:
  • Shōnen : Dành cho con trai và thanh niên
  • Shoujo : dành cho con gái
  • Komodo: dành cho trẻ em
  • Seinen: dành cho người lớn, thanh niên
  • Josei hoặc Redikomi: dành cho người lớn (chủ yếu là phụ nữ)
  • Seijin: tương tự Redikomi nhưng dành cho nam giới
  • Hentai: truyện tranh dành cho người lớn (nội dung chủ yếu về tình dục)
  • Yaoi: truyện tranh đồng tính nam có nói về quan hệ thể xác
  • Shonen-ai: truyện tranh đồng tính nam không nói về quan hệ thể xác mà chỉ có những cảm xúc/ tình cảm
  • Yuri: truyện tranh đồng tính nữ có nói về quan hệ thể xác
  • Shojo-ai: truyện tranh đồng tính nữ không nói về quan hệ thể xác mà chỉ có những cảm xúc/ tình cảm
  • Doujinshi: truyện tranh được fan chế tác lại dựa theo nguyên tác (original)
  • Gekiga: tiểu thuyết bằng hình (graphic novel)
Manga trên toàn thế giới

Những tác giả như Rumiko Takahashi, đã góp phần truyền bá Manga trên toàn thế giới, thu hút được lượng fan đông đảo.
Manga được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau như Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Ý … Ở Mỹ, manga chỉ là một ngành công nghiệp nhỏ, đặc bịêt là khi nó được so sánh với sự du nhập của phim hoạt hình Nhật đã làm ở Mỹ. Manga có số lượng phát hành đứng đầu ở Mỹ là Viz, của nhà xuất bản Shogakukan và nhiều tác phẩm khác nữa của Rumiko Takahashi.
Vì người Nhật đọc từ phảI sang trái, manga được vẽ và xuất bản theo cách này ở Nhật. Tuy nhiên khi được dịch sang các thứ tiếng khác, hình ảnh và canh lề được lật ngược lại, vì thế có thể đọc từ trái sang phải. Tuy nhiên, nhiều tác giả không chấp nhận tác phẩm bị sửa đổi theo cách trên và đề nghị vẫn giữ nguyên hình thức đọc từ phải sáng trái trong phiên bản nước ngoài. Chẳng bao lâu, vì nhu cầu của fan và vì quyền lợi của tác giả, nhiều nhà xuất bản bắt đầu đề nghị sự chọn lựa hình thức in từ phải qua trái, bây giờ cách in này đã trở nên phổ biến ở Bắc Mỹ. Hình thức in từ trái qua phải dần dần được loại bỏ. Ở Việt Nam, nhà xuất bản Kim Đồng đã từng thử nghiệm với manga “Ninja loạn thị”nhưng không được hưởng ứng. Đến năm 2008, nhà xuất bản Trẻ tiếp tục cho ra nhiều manga với hình thức in từ phải sang trái như H2 của Mitsuru Adachi v.v…
Hiện nay, giới trẻ Châu Âu đang nổi lên phong trào đọc manga và có xu hướng lấn áp comic truyền thống. Thật khá ngạc nhiên đối với đọc giả phương Tây khi các hoạ sĩ manga không biết rằng, các nhân vật và câu chuyện của họ đã ăn sâu vào người đọc. Các hoạ sĩ nước ngoài cũng có xu hướng bắt chước phong cách manga.

Doanh thu

Với con số 2,26 tỉ ấn bản mỗi năm (trung bình 17 quyển/người), chiếm trung bình 40% tổng số ấn bản sách báo, tạp chí, Manga đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho thị trường xuất bản ở Nhật Bản. Theo số liệu thống kê năm 2006 của The Research Institute for Publications, doanh thu từ ngành công nghiệp xuất bản Manga là 481 tỉ yên (Trung bình mỗi người Nhật bỏ ra 3.777 yên/năm – tương đương 30USD – để mua Manga).

Hình thức phân bố

Một manga có thể được thực hiện trong rất nhiều năm , vì vậy dẫn đến sự xuất hiện của các loại tạp chí chuyên đề manga, dùng để đăng các chương mới nhất của các tác phẩm. Các chương này sau đó được tập hợp lại và in thành cuốn gọi là tankobon. Tạp chí manga thường có nhiều kỳ, mỗi kỳ xuất bản từ 30 đến 40 trang. Những tạp chí manga hoặc những bộ tạp chí hợp tuyển này, khi đã nổi tiếng có thể xuất bản từ 200 đến 850 trang dài. Tạp chí manga cũng bao gồm những truyện ngắn và nhiều manga chỉ có 4 khung tranh (tương đương với cột tranh). Các seri manga có thể bán trong nhiều năm, nếu chúng thành công trong việc thu hút độc giả. Những người đam mê Manga tại Nhật Bản thường đến Mandarake, khu vực tập trung nhiều cửa hàng bán đủ các loại truyện tranh và các sản phẩm Manga đầy trí tưởng tượng. Ngoài hàng ngàn tạp chí, ở đây còn bán cả búp bê, trang phục, đồ cổ.Tất cả đều mô phỏng theo các nhân vật truyện tranh được sáng tạo ở Nhật trong 50 năm qua.
Các hình thức phân bố manga phổ biến khác là qua chợ internet bằng hình thức scanlation. Trong hình thức này, các tay nghiệp dư scan manga khi còn là tiếng Nhật và sau đó tiến hành dịch chúng, cung cấp lượng lớn manga trên mạng miễn phí cho đến khi các manga này thuộc sự uỷ quyền của nhà phân phối nào đó. Nếu scan trái phép,sẽ bị phạt rất nặng.
Một số hoạ sĩ manga xuất bản thêm những phần phụ, thỉnh thoảng không ăn nhập gì với cốt truyện truớc, người ta gọi đó là omake (phần thêm). Họ cũng có thể xuất bản tuyển tập các nét phác thảo của họ, gọi là oekaki.
Những fan hâm mộ sáng tác nên manga theo đường lối không chính thức gọi là doujinshi. Một vài doujinshi tiếp tục các câu truyện hoặc viết một câu chuyện mới trong đó sử dụng các nhân vật mà họ yêu thích hoặc hâm mộ do các mangaka xây dựng nên, hình thức này cũng tương tự như fan fiction. Cũng có doujinshi khác được sản xuất bởi các nhà xuất bản không chuyên ngoài thị trường.

Đánh giá

Mặc dù hình thức khá giống truyện tranh ở Mỹ, nhưng manga nắm một vị trí khá quan trọng trong văn hoá Nhật hơn là vai trò của truyện tranh trong văn hoá Mỹ. Manga được đánh giá cao cả về phương diện văn hoá lẫn nghệ thuật. Cũng tương ứng với truyện tranh Mỹ, manga cũng bị phê phán về tính bạo lực và sex; tuy nhiên, không có yêu cầu thẩm quyền hay luật lệ nào cố gắng giới hạn những gì được vẽ trong manga, ngoại trừ những khuôn khổ đạo đức mờ nhạt được áp đặt trên trang giấy, phát biểu rằng “những văn hoá phẩm thiếu đứng đắn ấy không nên được phổ biến”. Chính sự tự do này đã cho phép các hoạ sĩ manga mặc sức sáng tác cho đủ các nhóm tuổi với vô số các đề tài, thể loại.

Anime

Hoạt hình Nhật Bản hay còn gọi là Anime (tiếng Nhật: アニメ phát âm là a-ni-me, là từ vay mượn của tiếng Anh, từ chữ animation có nghĩa là "phim hoạt hình"), chỉ các bộ phim hoạt hình sản xuất tại Nhật Bản hay với phong cách Nhật Bản. Cũng giống như phim truyền hình, nó bao gồm rất nhiều thể loại khác nhau (hành động, hài, tình cảm, phiêu lưu, …). Hiện nay anime chiếm 60% số lượng phim hoạt hình được sản xuất trên toàn thế giới[1].
Ở Nhật Bản, anime chủ yếu được phát trên truyền hình (ở Nhật, đa phần các kênh truyền hình là của tư nhân). Những bộ anime chiếu trên TV thường được phát theo mùa (season), được gọi là TV series, mỗi 1/2 mùa thường bao gồm 12 tập (episode), vì thế những TV series thường có 12 tập (nửa mùa) hoặc 26 tập (một mùa), hay 52 tập (hai mùa). Cá biệt có những anime rất dài như Inu Yasha (167 tập), Doraemon, hay NarutoBleach. Anime thường được chiếu vào buổi khuya, trên những kênh nổi tiếng như Tokyo TV, TBS. Sau khi đã công chiếu trên các kênh truyền hình, các công ty sản xuất anime thường cho lồng lại tiếng Anh và phát hành trên DVD tại thị trường nước ngoài để kiếm thêm lợi nhuận.
Nhật Bản là nước duy nhất mà khán giả vẫn thường đến rạp rất đông để xem những phim hoạt hình chiếu trên rạp. Những phim này có thể có cốt truyện hoàn toàn mới (như Mononoke Hime, hay Spirited Away), hoặc đôi khi chỉ là một phim rút gọn của một bộ TV series (Rahxephon hay Shakugan no Shana có nội dung giống y chang TV series, nhưng được rút gọn còn 90 phút). Hãng làm phim anime nổi tiếng nhất là Studio Ghibli.
Ngoài ra, các anime còn có thể có "OVA" (Original Video Animation), thường gồm khoảng 3 hay 4 tập. Những OVA này được phát hành thẳng ra thị trường trên DVD mà không chiếu trên TV bao giờ. Nguyên nhân như sau: và mới nhất là
  • Có thể sau khi phát hành một TV series, nhà sản xuất muốn làm thêm một vài cốt truyện cũng về các nhân vật đó, nhưng không ăn nhập với cốt truyện chính, vì thế phát hành lẻ.
  • Có thể do nội dung của anime quá ngắn, chiếu trên TV có một hai tập không ai chấp nhận, vì thế bán DVD.
  • Có thể do nội dung của anime không phù hợp để chiếu trên TV (bạo lực hay tình dục).
Wikipe-tan trong trang phục nữ tu sĩ Shinto, với quần Hakama màu đỏ và Kimono trắng, được vẽ theo phong cách anime/manga.
Mục lục
  • 1 Lịch sử phát triển
    • 1.1 Bước khởi đầu
    • 1.2 Cách mạng Anime
  • 2 Đặc điểm
    • 2.1 Sự khác biệt giữa anime và cartoon
  • 3 Tác phẩm của fan hâm mộ
  • 4 Các thể loại anime
  • 5 Những hãng sản xuất anime nổi tiếng
  • 6 Ghi chú
  • 7 Liên kết ngoài
    • 7.1 Tiếng Việt
    • 7.2 Tiếng Anh
Lịch sử phát triển

Bước khởi đầu

Khác với manga (truyện tranh nhật bản), anime ra đời khá lâu về sau. Xuất phát ban đầu là từ khi hoạt hình phương Tây có những bước chuyển biến lớn và tạo ra được hành loạt độc giả hâm mô. Sau đó, các họa sĩ Nhật Bản đã bắt tay vào nghiên cứu cách làm hoạt hình. Anime đầu tiên là một đoạn phim rất ngắn được làm năm 1907, chỉ vỏn vẹn có 3 giây. Công việc này được bắt đầu từ năm 1914, nhưng mãi 4 năm sau, vào năm 1918, anime đầu tiên – Momotaro mới được ra đời. Mặc dù vậy, có lẽ là do không thu hút được nhiều người xem do bản thân chất lượng anime lúc đó và thị hiếu của người xem cũng không hướng về nên nền công nghiệp anime bị đình trệ cho đến khi Chikara To Onna No Yononaka – anime đầu tiên có lồng tiếng của Nhật Bản ra đời vào năm 1932.
Nhưng có lẽ đó vẫn là chưa đủ vì vào thời điểm này, hoạt hình phương Tây đã tự đưa mình lên những tầm cao mới khi hoạt hình của Công ty Walt Disney trở nên nổi tiếng và chứng tỏ được vị trí của mình ngang tầm với phim người thật.
Và có lẽ nếu không có một người thì không chỉ anime mà cả manga của Nhật Bản đều đã đi vào lãng quên. Người đã làm nên kì tích đó là Osamu Tezuka. Với những tác phẩm của mình, ông đã tạo ra nhiều sự thay đổi lớn cho nền hoạt hình Nhật. Với nét vẽ khá đơn giản, không thực sự phức tạp về chi tiết cá nhân cho nhân vật, manga của Osamu đã trở nên nổi tiếng ở Nhật. Nhưng không chỉ có một mình Osamu mà còn một người nữa đã đóng góp một phần quan trọng cho nền công nghiệp anime của Nhật, đó là Hiroshi Okawa người tạo lập ra hãng Toei Animation. Kéo theo đó là việc hợp tác giữa hãng và Osamu. Điều này đã đưa hàng loạt manga của Osamu lên anime.

Cách mạng Anime

Trong suốt những năm 80 của thế kỷ 20, trào lưu Suparobo anime rất ăn khách, và thể loại mecha chiếm đa số những anime được sản xuất. Những anime về "Super Robot" này bắt đầu với Mazinger Z, và sau đó có hàng loạt như Getter Robo, Dancouga, nói chung đại loại là có một nhà bác học tạo được robo khổng lồ do một số cậu/cô bé lái, để chống lại người ngoài hành tinh xâm lăng. Ngày nay các fan gọi thể loại này là oldschool. Gần đây có một số nhà sản xuất cố gắng khôi phục thể loại Suparobo với những loạt anime như Gao Gai Gar, nhưng thất bại thảm hại.


Gundam

Tiếp theo đó phải kể đến sự ra đời của loạt phim về robot Gundam. Loạt anime Gundam của hãng Sunrise tuy cũng là mecha, nhưng người lớn hơn, có cốt truyện sâu sắc và mô phỏng theo Thế chiến thứ hai. Một bên là Amuro Ray, anh hùng của phe Earth Federation (tương tự như phe Đồng Minh), một bên là Char Aznable của Neo Zeon (tương tự như phe Trục). Loạt Gundam cổ điển đã đưa ra những vấn đề lớn và nghiêm túc, như hai phe đều là người, đều có theo đuổi lý tưởng riêng, đều có tình cảm chứ không chỉ là những anh hùng bắn bọn ngoài hành tinh gian ác rồi chiến thắng vui vẻ.Dù một số series mới như Gundam Seed Destiny bị chỉ trích khá nhiều nhưng loạt Anime này đã lấy lại được uy tín với series mới nhất Gundam 00 là một trong nhưng Anime được đón xem nhiều nhất tại Nhật cuối năm 2008.
Bộ anime đã làm thay đổi cả thể lại mecha chính là Neon Genesis Evangelion của hãng GAINAX do Hideaki Anno đạo diễn. Bộ phim ẩn chứa nhiều thông điệp mà các khán giả con nít không thể tiếp thu nổi. Chính vì vậy, khi mới chiếu lần đầu, NGE không được hâm mộ mấy, nhưng sau lại trở thành anime luôn xếp trong top 10 anime nỗi tiếng nhất mọi thời đại. Macross cũng là một bộ thể loại mecha khá nổi tiếng trước đó. Anime dần có xu hướng có nhân vật trẻ con hơn là người lớn, và ít bạo lực đẫm máu hơn.

Zero no Tsukaima, đại diện của anime thời đại mới

Bộ anime Cowboy Bebop đã đạt được danh tiếng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài, nhờ phong cách cowboy đặc sắc và nhạc jazz và nhạc blues. Kéo theo sau đó là hàng loạt phim như Akira, Ghost in the shell… Các hãng phim thi nhau nhảy vào thị trường và các thể loại của anime cũng do đó mà tăng dần. Những anime như Fruits Basket, Tiny Snow Fairy Sugar, Ichigo Mashimaro hoàn toàn không có một chút bạo lực nào cả, đã chiếm được cảm tình nhiều fan hâm mộ, đa phần là nữ. Tuổi của người xem không chỉ dừng lại là trẻ em mà tiến dần đến với người lớn. Ông Taro Aso, chính khách Nhật thừa nhận mình cũng là người rất hâm mộ manga Rozen Maiden.
Cách tạo hình nhân vật cũng đã có nhiều thay đổi. Ngày nay, thay vì các nhân vật được vẽ tối, có gương mặt chi tiết khá giống kiểu cartoon của Mỹ, các nhân vật anime thường có tóc và quần áo màu sáng và rực rỡ hơn, khuôn mặt được vẽ đơn giản nhưng moe (xinh) hơn, với mắt to, mũi và miệng rất nhỏ. Những nhân vật kiểu chibi (nhỏ nhắn) thường được ưa chuộng. Phim hài cũng được ưa thích hơn, và anime thể loại mecha như Full Metal Panic! cũng đã rất thành công khi chuyển thể thành anime comedy với Full Metal Panic! Fumoffu.
Kịch bản anime cũng được chú trọng hơn, và những anime như Ergo Proxy có tính triết lý khá cao, hay Welcome to the NHK! đưa ra vấn đề xã hội. Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều tốt đẹp, do có quá nhiều anime được sản xuất hàng năm, kịch bản đa phần là nhai lại các thể loại như harem và có cả những anime sao chép nội dung của phim khác như DearS là phim nhái Chobits. Thêm nữa, một số lượng lớn anime bạo lực nhảm nhí và vô số hentai khiến nhiều người nghĩ xấu về anime, như Microsoft viết: "Anime: a Japanese style of animated cartoon, often with violent or sexually explicit content" Microsoft® Encarta® 2007. © 1993-2006 Microsoft Corporation. All rights reserved.

Đặc điểm

Strawberry Panic!, một trong số ít các phim thuộc thể loại Yuri, đã trở nên rất nổi tiếng và được phát hành game, manga

Ngành công nghiệp anime có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều người. Trước hết là sự kết hợp giữa anime, manga và game visual novel. Khi một manga được khán giả hâm mộ và trở nên ăn khách, ngay lập tức nó được các công ty làm anime mua bản quyền và tạo thành anime phát lên TV. Nhóm họa sĩ CLAMP có rất nhiều manga được chuyển thành phim. Ngược lại, nếu anime với một cốt truyện mới trở nên nổi tiếng thì sẽ có hàng loạt manga nhiều tập được phát hành ăn theo, ví dụ như The Melancholy of Haruhi Suzumiya. Ngoài ra, những hãng làm game visual novelTYPE-MOON hay Aqua Plus đã có nhiều game được chuyển thể sang anime như Tsukihime, FATE/Stay night, Comic Party, To Heart. Một số game như Super Robot Taisen cũng đã rất thành công khi ăn theo những loạt anime về robot. Ngược lại, những anime mới nổi tiếng như Zero no Tsukaima, Strawberry Panic! đã được chuyển thể thành game cho hệ máy PS2 không lâu sau khi chúng được phát trên TV.
Nói đến anime ngoài phần hình, không thể không nói đến phần tiếng. Đội ngũ diễn viên lồng tiếng (Seiyuu) là một lực lượng không thể thiếu. Họ là những người chuyên nghiệp được đào tạo trường lớp bài bản. Megumi Hayashibara là một diễn viên lồng tiếng cực kỳ nỗi tiếng, và cũng là ca sĩ, thường thể hiện luôn các ca khúc trong phim. Cô nổi tiếng với vai Lina Inverse trong phim Slayers, hay Rei Ayanami trong Neon Genesis Evangelion.
Mỗi một series anime thường có nhạc phim riêng, được các nhạc sĩ chuyên sáng tác nhạc cho anime viết. Những bản nhạc này được dùng riêng cho mỗi anime đó, và sau đó được phát hành album gọi là OST (Original Soundtrack). Một số OSTs rất nổi tiếng là Cowboy Bebob, Vision of Escaflowne, Noir, hay .hack//SIGN. Những nhà soạn nhạc cho anime nổi tiếng có Yoko Kanno, hay Yuki Kajiura.
như
Sự khác biệt giữa anime và cartoon

Gunslinger Girl

Không giống như phim hoạt hình của Mỹ, vốn chỉ nhằm vào trẻ em, anime được đông đảo giới trẻ trên thế giới hâm mộ. Các fan của anime chủ yếu từ tuổi teen đến hơn 30 tuổi. Tuy nhiên, phần đông những người xem anime nghiệp dư ở nước ngoài chỉ biết đến những anime thuộc thể loại hành động cho trẻ em hay shounen như Dragon Ball hay Yugi Oh trong khi những phim đó không thật sự có danh tiếng gì ở quê nhà.

Ngoài ra, phim hoạt hình của Mỹ thường không có cốt truyện rõ ràng, muốn kéo dài bao nhiêu cũng được, ví dụ như mèo Tom và chuột Jerry chạy qua chạy lại, hay Batman đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác. Anime thường có cốt truyện không dài lắm. Mỗi tập anime ( episode) trung bình dài 25 phút, kể cả đoạn giới thiệu đầu và cuối phim. Đoạn giữa thường có một khúc ngắt khoảng vài giây gọi là Eyecatch. Cốt truyện anime thường diễn ra và kết thúc trong khoảng từ 12 đến 26 tập như vậy. Tuy một số anime được kéo rất dài (như Naruto chẳng hạn), và những anime này do đó trở nên được nhiều người biết đến, nhưng do nội dung thường chẳng có gì mà cố gắng kéo ra thật dài nên kết quả là chỉ có trẻ con xem.
Một điểm khác biệt nữa là anime thường có chi phí sản xuất thấp hơn nhiều so với phim hoạt hình Mỹ, do vậy nên dù truyền thống là vẽ bằng tay, nhưng gần đây các công ty thường chuyển cho các công ty con ở Hàn Quốc vẽ để giảm chi phí, hoặc dùng kỹ thuật 3D để hỗ trợ. Các nhà sản xuất anime thường dùng xảo thuật để giảm chi phí sản xuất, ví dụ như chiếu những góc quay che miệng nhân vật, để khỏi phải vẽ môi nhấp nháy. Cử động của môi các nhân vật anime cũng không bao giờ chi tiết như trong phim hoạt hình Mỹ. Tuy nhiên đặc biệt cũng có những anime có giá thành sản xuất cực đắt như Gunslinger Girl.

Tác phẩm của fan hâm mộ

Ở Nhật có vô số fan hâm mộ anime, một số hâm mộ quá mức gọi là otaku. Ở Tokyo, những hội chợ anime (convention) thường xuyên được tổ chức, nơi mà các fan hâm mộ bán và mua những tác phẩm của chính mình, như poster các nhân vật anime, truyện fan tự vẽ (doujinshi), hay búp bê tự làm (idol). Ngoài ra còn có cosplay, v.v.
Đối với những fan không sống ở Nhật, việc chờ đợi những anime mới được phát hành sàn Mỹ hay Châu Âu hay chiếu trên TV ở đấy là rất khó khăn. Thường cả năm sau khi chiếu ở Nhật, các anime mới được lồng tiếng Anh xong và phát hành ra nước ngoài. Đối với các fan ở các nước nghèo như VN, vô vọng. Và Fansub là cứu cánh cho các fan tội nghiệp này. Fansub là những anime được phụ đề tiếng Anh bởi những nhóm fan hâm mộ, được truyền tải qua Internet, thường dùng Bit Torrent. Quá trình làm một fansub như sau: hội fansub đó ít nhất phải có một người quen ở Nhật, khi người này xem anime trên TV sẽ thu lại, rồi tải lên mạng. Nhóm fansub sau đó phải dịch các đối thoại trong tập phim, rồi lồng phụ đề vào. Do đa phần các fan nghèo, nên họ dùng Torrent để cho các fan khác tải xuống. Với cách này, các fan hâm mộ ở ngoài nước Nhật có thể xem được phim mới chỉ sau một tuần. Tuy nhiên, các nhóm fansub thường ngừng việc làm khi các công ty anime đăng ký bản Mỹ. Và các bạn sau khi xem fansub, không nên bán lại cho người khác để kiếm lời, cũng như nên mua DVD chính hãng để ủng hộ các hãng làm anime.

Các thể loại anime
Hellsing, thể loại Vampire

Cũng như manga, anime gồm nhiều loại khác nhau.
  • Action: Phim anime hành động (như Naruto)
  • Adventure: Phim anime phiêu lưu (như Inu Yasha)
  • Comedy: Phim anime hài (như School Rumble)
  • Demetia: Những phim thuộc thể loại này thường "điên điên" Fooly Coolly
  • Detective: Phim anime thám tử (như Thám tử lừng danh Conan)
  • Drama: Phim anime kịch (như Aria, Honey & Clover)
  • Fantasy: Phim anime có bối cảnh tưởng tượng, phép thuật (như Slayers)
  • Girls-with guns: Phim anime có mấy cô bắn súng (như Noir, Chrno Crusade)
  • Horror: Phim anime kinh dị (như Jigoku Shoujo)
  • Mafia: Phim anime có mafia (như Gungrave)
  • Samurai: Phim anime có samurai (như Rurouni Kenshin)
  • Sci-Fi: Phim anime viễn tưởng (như Last Exile)
  • Sports: Phim anime thể thao (như Captain Tsubasa)
  • School: Phim anime trường học (như Azumanga Daioh)
  • Parody: Những anime hài hước, nhái hay chọc những anime/manga khác Excel Saga
  • Vampire: Phim anime có quỉ hút máu (như Hellsing, Vampire Hunter D)
  • Bishoujo/Moe: Phim anime có các nhân vật chính là nữ, xinh đẹp (như Mai-HiME)
  • Bishounen: Phim anime có các nhân vật chính nam, nhưng thường được vẽ như nữ, hoặc những nhân nữ có nét đẹp nam tính (như Ran The Samurai Girl)
  • Mahou Shoujo: Phim anime có các nhân vật chính là nữ, có phép thuật, biến hình (như Sailor Moon)
  • Harem: Phim thường có một nhân vật nam không có điểm gì đặc biệt nhưng được nhiều nhân vật nữ hâm mộ (như Love Hina, Ai Yori Aoshi, Happy Lesson, Inukami)
  • Shoujo: Phim anime dành cho nữ, thường thiên về tình cảm (như Fruits Basket)
  • Shounen: Phim anime dành cho nam, thiên về các loại như khoa học viễn tưởng, thể thao, hành động, và thường mang tính chất bạo lực (như Dragon Ball)
  • Kodomo: Phim anime cho trẻ em (như Damekko Doubutsu)
  • Seinen: Phim anime dành cho lứa tuổi thanh niên, trung niên (như Akira)
  • Mecha: Phim anime về robot hoặc máy móc (như Gundam)
  • Shounen ai: Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, thường nhẹ nhàng (như Graviation)
  • Yaoi: Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, có thể có cảnh sex
  • Shoujo ai: Phim anime về đồng tính nữ, thường nhẹ nhàng (như Strawberry Panic!)
  • Yuri: Phim anime về đồng tính nữ, thường nhẹ nhàng, có thể có cảnh sex (như Kannazuki no Miko)
  • Ecchi: Phim anime thường có những cảnh hở hang để gây cười, dụ khán giả, nhưng không có cảnh sex (như Mahoromatic)
  • Hentai: Phim anime bao gồm sex (cấm trẻ em dưới 18 tuổi) (như La Blue Girl)
Những hãng sản xuất anime nổi tiếng
  • Sunrise
  • GAINAX
  • Studio Ghibli
  • GONZO
  • Bee Train
  • J.C. Staff
  • Studio DEEN
  • BONES
  • Bandai Visual
  • Toei Animation
  • Kyoto Animation
  • XEBEC
  • MADHOUSE
  • Group TAC
  • GENCO
  • Pioneer
  • SHAFT
  • Studio Comet
  • Nomad
  • Manglobe
  • SOFTX
  • Victor Entertainment
  • Ufotable Zippers
sưu tầm
Xem thêm bài viết liên quan

Bài viết cùng danh mục