Tìm hiểu về Minh Trị Thiên Hoàng Meiji Tenno

thienhoang1.jpgThiên hoàng Minh Trị (Nhật: 明治天皇 (Minh Trị Thiên hoàng) Meiji-tennō?) (11 tháng 3 năm 1852 – 30 tháng 7 năm 1912), còn gọi là Minh Trị Đại Đế, Minh Trị Thánh Đế, Mutsuhito Đại Đế, là vị Thiên hoàng thứ 122 của Nhật Bản theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống, trị vì từ ngày 3 tháng 2 năm 1867 tới khi qua đời. Ông được coi là vị hoàng đế anh minh và có công lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, đã canh tân và đưa nước này trở thành một quốc gia hiện đại. Tên thật (húy) ông là Mutsuhito (Nhật: 睦仁 Mục Nhân?), còn được phiên âm thành Mutxuhitô hay Mutsuhitô trong tiếng Việt. Giống như các tiên đế, ông chỉ được nhắc đến bằng thụy hiệu từ khi qua đời, dù thỉnh thoảng ông được gọi là Thiên hoàng Mutsuhito[2] hoặc đơn giản là Mutsuhito ở ngoài Nhật Bản. Ngoài trường hợp là người thân trong Hoàng gia, ai nói tên thật của Thiên hoàng sẽ bị xem là phạm húy. Khi Thiên hoàng qua đời, người kế vị ông sẽ đặt niên hiệu mới cho mình. Vốn đã cai trị trong thời kỳ Minh Trị, ông được biết với tên gọi Thiên hoàng Minh Trị (hay Nhật hoàng Minh Trị).


Thiên Hoàng Minh Trị

Minh Trị Thiên hoàng
明治天皇
Meiji-tennō


thienhoang1.jpg
Hình Minh Trị Thiên hoàng trong sách Tenno Yondai No Shozo (天皇四代の肖像, Thiên hoàng Tứ đại chi Tiêu tượng), xuất bản bởi NXB Mainichi (Mainichi Shinbun Sha, 毎日新聞社, Mỗi Nhật Tân văn xã).

Thông tin chung

Thiên hoàng thứ 122 của Nhật Bản
Trị vì 3 tháng 2 năm 1867 – 30 tháng 7 năm 1912
Đăng quang: 3 tháng 2 năm 1867
Tiền nhiệm: Hiếu Minh Thiên hoàng
Thủ tướng:
Itō Hirobumi
Kiyotaka Kuroda
Sanetomi Sanjō
Aritomo Yamagata
Masayoshi Matsukata
Ōkuma Shigenobu
Tarō Katsura
Kinmochi Saionji
Kế nhiệm: Đại Chính Thiên hoàng
Vợ: Chiêu Hiến Hoàng thái hậu
Hậu duệ:
Đông cung Thái tử, sau là Đại Chính Thiên hoàng
Công chúa Masako
Công chúa Fusako
Công chúa Nobuko
Công chúa Toshiko
Tên đầy đủ: Mutsuhito (Nhật: 睦仁 Mục Nhân?)
Tước vị: Thiên hoàng (天皇, tennō), Ngự Môn hay Đế (Mikado, 御門 hay 帝 hoặc みかど)
Niên hiệu
Minh Trị: 1868 – 1912
Thụy hiệu: Minh Trị Thiên hoàng
Hoàng tộc: Nhà Yamato
Hoàng gia ca: Kimi ga Yo
Thân phụ: Hiếu Minh Thiên hoàng
Thân mẫu: Nakayama Yoshiko
Sinh: 3 tháng 11 năm 1852 tại Kyōto, Nhật Bản
Mất: 30 tháng 7 năm 1912 tại Đông Kinh, Nhật Bản
Tôn giáo: Thần đạo

Thiên hoàng Minh Trị (Nhật: 明治天皇 (Minh Trị Thiên hoàng) Meiji-tennō?) (11 tháng 3 năm 1852 – 30 tháng 7 năm 1912), còn gọi là Minh Trị Đại Đế, Minh Trị Thánh Đế, Mutsuhito Đại Đế, là vị Thiên hoàng thứ 122 của Nhật Bản theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống, trị vì từ ngày 3 tháng 2 năm 1867 tới khi qua đời. Ông được coi là vị hoàng đế anh minh và có công lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, đã canh tân và đưa nước này trở thành một quốc gia hiện đại.

Tên thật (húy) ông là Mutsuhito (Nhật: 睦仁 Mục Nhân?), còn được phiên âm thành Mutxuhitô hay Mutsuhitô trong tiếng Việt. Giống như các tiên đế, ông chỉ được nhắc đến bằng thụy hiệu từ khi qua đời, dù thỉnh thoảng ông được gọi là Thiên hoàng Mutsuhito[2] hoặc đơn giản là Mutsuhito ở ngoài Nhật Bản. Ngoài trường hợp là người thân trong Hoàng gia, ai nói tên thật của Thiên hoàng sẽ bị xem là phạm húy. Khi Thiên hoàng qua đời, người kế vị ông sẽ đặt niên hiệu mới cho mình. Vốn đã cai trị trong thời kỳ Minh Trị, ông được biết với tên gọi Thiên hoàng Minh Trị (hay Nhật hoàng Minh Trị).

Vào thời điểm ông ra đời (1852), Nhật Bản là một nước nông nghiệp với quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, thực hiện chính sách Tỏa Quốc giới hạn giao thương với nước ngoài, lại nằm dưới quyền Mạc phủ Tokugawa (Đức Xuyên Mạc Phủ) và các lãnh chúa đại danh (daimyō) cát cứ ở 250 phiên (han). Ông lên ngôi năm 1867 khi mới 14 tuổi rưỡi và chiến thắng của phe bảo hoàng chiến tranh Mậu Thìn đã giúp ông khôi phục Đế quyền. Dưới triều đại ông, cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân được thực hiện. Cuộc Minh Trị Duy Tân đã tạo điều kiện cho nước Nhật phát triển theo đường lối chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, rồi còn bành trướng ra nước ngoài. Với chiến thắng trước nhà Thanh trong chiến tranh Giáp Ngọ, và đế quốc Nga trong chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản đứng hàng ngũ các cường quốc thế giới.

Mặc dù không phải tất cả những sự kiện trên đều do một mình Thiên hoàng Minh Trị làm ra, nhưng tất cả được thực hiện dưới "Thánh chỉ của Thiên hoàng" và dĩ nhiên ông có nhiều đóng góp, dính líu đến trong đó. Vì vậy Thiên hoàng Minh Trị được nhiều người chú ý nhất trong số các Thiên hoàng Nhật Bản. Những nhà lãnh đạo trong chính quyền Minh Trị cũng cố gắng đưa Thiên hoàng trở thành biểu tượng của sự thống nhất và lòng trung thành của dân tộc Nhật Bản, dựa trên niềm tin Hoàng gia thiêng liêng, là con cháu của Thiên Chiếu Đại Thần Amaterasu. Có người tôn vinh ông, nhưng cũng có người chỉ trích ông một cách thẳng tay.

Thân thế và tuổi nhỏ

Mutsuhito là con trai thứ của Thiên hoàng Hiếu Minh. Mẹ ông là thị nữ Nakayama Yoshiko (中山慶子, Trung Sơn Khánh Tử, 1834 – 1907),[6] con gái của lãnh chúa Nakayama Tadayasu thuộc gia tộc Fujiwara, đã có lúc làm Tả đại thần. Ông ra đời 8 tháng trước khi Phó đề đốc Matthew Calbraith Perry và đội “Chiến Hạm Đen” của Hoa Kỳ đến vịnh Giang Hộ và 2 năm trước những hiệp ước mà Mạc phủ Tokugawa ký với Perry, gồm những điều khoản không có lợi cho Nhật Bản.

Vị hoàng tử trẻ được đặt tên là "Hữu cung" (さちのみや, Sachi-no-miya). Phần lớn thời thơ ấu của ông trôi qua tại gia đình Nakayama ở kinh đô Kyōto, theo phong tục ủy thác nuôi dưỡng trẻ em Hoàng gia cho các thành viên ưu tú của cung đình. Mutsuhito bắt đầu học khi chín tuổi. Ông là một học sinh thờ ơ, và, về cuối đời, ông đã viết những bài thơ tỏ lòng ân hận rằng bản thân ông đã không chuyên tâm hơn trong môn tập viết. Ngày 11 tháng 7 năm 1860, ông chính thức được nhận nuôi bởi Asako Nyōgō (sau này là Anh Chiếu Hoàng thái hậu), nữ ngự (nyogo) của Thiên hoàng Hiếu Minh. Ông được đổi tên là Mục Nhân (Mutsuhito – hàm nghĩa đối xử với mọi người hòa mục, nhân từ), được phong chức Thân vương (Shinnō), lại được phong chức Hoàng thái tử (Kōtaishi) cùng ngày.

Theo 10 đại hoàng đế thế giới, cái tên Mutsuhito đúng là hợp với vẻ ngoài của hoàng tử lúc đó. Ngay từ lúc nhỏ, ông chỉ quanh quẩn với các cung nữ và sống cách biệt với thế giới bên ngoài, lại còn được cha mẹ hết sức cưng chiều, yêu quí, nên Mutsuhito trở thành một cậu bé nhút nhát, yếu đuối và hay sợ sệt. Tháng 8 năm 1864, binh sĩ của Mạc phủ và phiên Trường Châu đánh nhau với quân của phiên Long Ma tại cửa hoàng cung, và tiếng súng nổ trong trận đánh đã khiến Mutsuhito té xỉu vì quá sợ, và sau khi tỉnh dậy cậu bé vẫn còn chui rúc vào lòng các cung nữ để trốn, tỏ ra không có một tí can đảm nào cả. Nhiều triều thần sợ rằng, theo đà tiến triển của cuộc xung đột giữa chính quyền Mạc phủ và các lực lượng chống đối thì hai bên lại có thể đánh nhau ở kinh đô Kyōto, và lúc này Mutsuhito sẽ chết vì quá sợ.

Phần lớn tuổi trẻ của Thiên hoàng Minh Trị chỉ được biết qua các ghi nhận về sau. Theo Donald Keene, tác giả cuốn Emperor of Japan: Meiji and His World, 1852–1912, các ghi nhận thường có sự mâu thuẫn. Một người đương thời mô tả tiểu hoàng tử là một người to khỏe, hơi giống một tên du côn và thể hiện tài năng xuất chúng trong môn sumo. Theo những ghi nhận khác, vị hoàng tử là một người mảnh khảnh và hay bị ốm. Một số người viết tiểu sử Minh Trị nói ông đã ngất xỉu khi nghe tiếng súng lần đầu tiên, nhưng điều này bị bác bỏ bởi một số người khác.

Tuy nhiên, do thân thế là một hoàng tử, Mutsuhito cũng bị tiêm nhiễm phải nhiều thói tật không lành mạnh của một cậu bé quý tộc, ví dụ như cậu thiếu sự đồng cảm với những người yếu thế. Một lần nọ, thấy một cụ già bị sẩy chân té xuống nước, Mutsuhito không những không kêu người đến cứu mà còn phá lên cười khoái chí. Dạo khác, Mutsuhito mang kéo đi cắt phá tan hoang những cành dây leo trang trí trong hành lang cung vua, rồi vu khống cho người khác. Và việc cầm khẩu súng bắn nước đi chọc phá các cung nữ cũng là một trò vui của tiểu hoàng tử.

Quá trình lên ngôi đầy sóng gió

Bối cảnh lịch sử

Trong suốt thời niên thiếu của hoàng tử Mutsuhito, nước Nhật đang trong buổi giao thời giữa cái cũ và cái mới. Mặc dù suốt hai thế kỷ trước năm 1854, Nhật Bản giới hạn nghiêm ngặt việc giao thương với người nước ngoài, điều này không có nghĩa là ngoại thương hoàn toàn chấm dứt. Người Nhật vẫn buôn bán với nhà Triều Tiên thông qua đảo Đối Mã, Mãn Thanh qua Nam Tây Chư Đảo và Hà Lan qua thương điếm Dejima (Xích Đảo), một hòn đảo nhân tạo nằm ngoài khơi cảng Nagasaki. Nhờ sự tiếp xúc với người Hà Lan, các nghiên cứu khoa học của phương Tây vẫn tiếp tục được tiếp thu trong thời kỳ này với cái tên "Lan học" (rangaku), cho phép người Nhật học hỏi và làm theo phần lớn các bước của Cách mạng khoa học và Cách mạng công nghiệp. Một số người thuộc tầng lớp võ sĩ, nhận được sự giáo dục tốt thì bắt đầu tìm tòi con đường cải cách. Mối quan hệ buôn bán hạn chế với Hà Lan đã phần nào giúp chủ nghĩa tư bản phương Tây thâm nhập vào xã hội phong kiến Nhật Bản và đẩy nhanh sự sụp đổ của nó, vốn đã rạn nứt nghiêm trọng trong suốt một thời gian dài trước đó.

Năm 1854, Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ là Matthew Calbraith Perry mang một hạm đội 9 chiếc tàu chiến tới buộc Nhật Bản mở cửa, chấm dứt thời kỳ bế quan tỏa cảng. Nhưng người Mỹ đã bắt chính quyền Mạc phủ ký một hiệp định buôn bán bất bình đẳng. Tiếp đó, các đế quốc như Hà Lan, Anh, Pháp, Nga,… cũng đua nhau tới và ép Mạc phủ ký các hiệp ước tương tự. Việc mất đi một loạt chủ quyền quốc gia khiến Nhật Bản đứng trước cuộc khủng hoảng dân tộc và này gây bất mãn trong quần chúng nhân dân. Mạc phủ sớm đối mặt với sự thù địch ở trong nước, được cụ thể hóa thành phong trào bài ngoại “Tôn hoàng, nhương di”, tức nâng cao uy tín Thiên hoàng, đánh đuổi người ngoại quốc ra khỏi xứ sở. Các Phiên vùng Tây Nam Nhật Bản – vốn từ lâu bất mãn với Mạc phủ – đã nhân cơ hội này đi rêu rao khắp nơi rằng chính quyền Mạc phủ câu kết với người nước ngoài, bán đứng chủ quyền quốc gia; mưu dùng chiêu bài “Tôn hoàng, nhương di” để lật đổ chế độ Mạc phủ.

thienhoang2.jpg
Kanrin Maru, tàu chiến hơi nước chạy chân vịt đầu tiên của Nhật, năm 1855.

Mạc phủ hăng hái theo đuổi quá trình hiện đại hóa, nhưng đối mặt với sự bất mãn ngày càng tăng ở trong nước chống lại mối nguy với chủ quyền quốc gia vì các mối liên hệ với phương Tây.
Thiên hoàng Hiếu Minh ủng hộ xu thế này, và – phá vỡ truyền thống hàng thế kỷ của Hoàng gia – bắt đầu giữ vai trò chủ động trong công việc triều chính: khi cơ hội đến, Thiên hoàng phản đối lại các hiệp ước và cố can dự vào việc nối ngôi Tướng quân. Đỉnh cao nỗ lực của Thiên hoàng Hiếu Minh là vào tháng 3 năm 1863 với “Nhương di sắc mệnh”. Mặc dù Mạc phủ không có ý thi hành chiếu chỉ, điều này sau này lại hại chính Mạc phủ và người nước ngoài ở Nhật: sự kiện nổi tiếng nhất là việc thương nhân Charles Lennox Richardson bị sát hại, và cái chết của Richardson đã khiến Mạc phủ phải trả tiền bồi thường lên đến 10 vạn bảng Anh. Những cuộc tấn công khác bao gồm việc bắn phá tàu ngoại quốc tại Shimonoseki.

Trong năm 1864, những hành động này bị các thế lực ngoại quốc đáp trả dữ dội, ví dụ như vụ bắn phá Kagoshima của quân Anh và bắn phá Shimonoseki của liên quân các nước. Cùng lúc, quân đội Chōshū, cùng với những lãng nhân bài ngoại, tiến hành cuộc nổi loạn Hamaguri cố chiếm kinh đô Kyōto, nhưng Tướng quân tương lai là Tokugawa Keiki dẫn đầu đội quân chinh phạt và đánh bại họ. Vào lúc này, sự kháng cự trong giới lãnh đạo phiên Chōshū cũng như triều đình giảm xuống, nhưng vài năm sau, gia tộc Tokugawa không thể kiểm soát được toàn bộ đất nước nữa khi mà phần lớn các đại danh (daimyō) bất tuân các mệnh lệnh và yêu cầu từ Giang Hộ.

Nhận thức về tình hình chính trị náo loạn của hoàng tử Mutsuhito được Keene xem là không chắc chắn. Trong thời gian này, cậu học thơ tanka, đầu tiên học với phụ hoàng Hiếu Minh, sau học với các nhà thơ của cung đình.

Lên ngôi và lật đổ chế độ Mạc phủ

Sau cuộc đảo chính nội bộ và cuộc nổi loạn cách tân của phiên Chōshū bị Mạc phủ cử quân viễn chinh dẹp tan, phiên Chōshū bí mật liên minh với phiên Satsuma, và tìm cách liên minh với phiên Tosa. Tuy vậy, cuối năm 1866, đầu tiên là Tướng quân Tokugawa Iemochi (Đức Xuyên Gia Mậu) và sau đó đến ngày 30 tháng 1 năm 1867 Thiên hoàng Hiếu Minh qua đời. Tokugawa Keiki (Đức Xuyên Khánh Hỉ) lên kế vị chức Chinh di Đại Tướng quân (Shōgun). Trước đây vốn là người thuộc phái cải cách, Keiki đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng nhằm hiện đại hóa chính quyền Mạc phủ và biến Nhật Bản thành một quốc gia theo cơ cấu Tây phương. Còn Mutsuhito – lúc này chỉ là một cậu bé 14 tuổi rưỡi – được mọi người tôn làm Thiên hoàng, chính thức lên nối ngôi ngày 3 tháng 2 năm 1867, trong một nghi lễ ngắn ở kinh đô Kyōto. Những sự kiện này tạo ra "một xu thế không thể tránh khỏi"].
Đứng trước tin này, lực lượng chống Mạc phủ ngay lập tức đề ra kế hoạch nắm lấy miếng "Ngọc" – tức khống chế Thiên hoàng rồi sau đó sẽ "ôm lấy Ngọc" – tức lợi dụng danh nghĩa Thiên hoàng để tiêu diệt chính quyền Mạc phủ. Lúc này, Thiên hoàng Mutsuhito chỉ là một cậu bé, suốt ngày cứ chơi đùa với các cung nữ một cách vô ý thức. Cậu hoàn toàn không có năng lực và kinh nghiệm chấp chính, chỉ làm một vị hoàng đế bù nhìn, đóng dấu và ký tên vào những văn kiện đã được soạn thảo sẵn. Thiên hoàng cũng tiếp tục học tập, nhưng không học về những vấn đề chính trị.

Đầu tiên, Iwakura Tomomi (Nham Thương Cụ Thị) – một người hầu cũ của Thiên hoàng Hiếu Minh – trước tiên lôi kéo số công khanh trong triều đình, thuyết phục họ đứng về phía chống Mạc phủ, cùng nhau thao túng Thiên hoàng. Họ khuyên Thiên hoàng ban lệnh ân xá cho tất cả những thành viên chống Mạc phủ đang bị giam trong tù. Sau đó, vào ngày 8 tháng 11 năm 1867, họ thuyết phục Thiên hoàng xuống mật chiếu chinh phạt lực lượng Mạc phủ do Tokugawa Keiki đứng đầu. Đến hôm sau (9 tháng 11), mật chỉ của Thiên hoàng đã được truyền xuống hai phiên Satsuma và Chōshū. Tờ mật chỉ có đoạn:

Không thảo phạt được tên giặc này thì đối với trên làm sao đáp tạ được thần linh của tiên đế, đối với dưới làm sao trả được thâm thù của muôn dân ?

thienhoang3.jpg
Chinh di Đại Tướng quân Tokugawa Keiki, năm 1867.

Trước tình hình đó, theo đề xuất của đại danh phiên Tosa, Keiki tuyên bố "trả lại đại quyền" cho Thiên hoàng và từ bỏ chức vụ "Chinh di Đại tướng quân", đồng ý trở thành "công cụ thực thi" mệnh lệnh của Hoàng gia. Mạc phủ Tokugawa chấm dứt. Tuy nhiên thông qua việc khống chế hội nghị của các phiên, Keiki hy vọng mình vẫn có thể nắm thực quyền như trước đây. Tất nhiên phái chống Mạc phủ không dễ gì mắc bẫy của Keiki, họ tiếp tục dùng danh nghĩa của Thiên hoàng để điều động quân đội từ các địa phương về. Sáng sớm ngày 3 tháng 1 năm 1868, họ lại "nhờ" Thiên hoàng ra lệnh giải tán hết các đội cảnh vệ của Mạc phủ đóng trong Hoàng cung, thay vào đó là lực lượng của phái chống Mạc phủ. Tiếp theo, Thiên hoàng lại ban bố lệnh phục hồi chính quyền cổ của Thiên hoàng, xóa bỏ chế độ Mạc phủ, đặt ra ba quan chức Tổng Tài, Nghị Định, Tham dữ. Cho đến lúc này Thiên hoàng Mutsuhito đã hoàn toàn nằm trong tay phái cải cách, nhưng họ vẫn còn lo sợ thế lực của gia tộc Tokugawa. Thế là phái chống Mạc phủ lại thuyết phục Thiên hoàng ban sắc lệnh buộc Keiki "từ quan nộp đất", tức tước đoạt binh quyền và lãnh địa của Keiki.

Tokugawa Keiki phản ứng ngay. Keiki phát động một chiến dịch quân sự với mục đích chiếm lấy triều đình ở Kyōto, tuyên bố sẽ thanh trừ bọn "phản tặc" chung quan Thiên hoàng. Đáp lại, Thiên hoàng lại ban bố sắc lệnh sẽ đích thân cầm quân chinh phạt "tên giặc" Keiki đang mưu cướp đoạt quyền lực quốc gia. Đôi bên đã đánh nhau tại khu vực Điểu Vũ, Phục Kiến gần kinh đô Kyōto. Tình hình quân sự nhanh chóng chuyển biến theo hướng có lợi cho phe bảo hoàng, tuy nhỏ hơn nhưng được hiện đại hóa mạnh mẽ hơn. Đồng thời, đông đảo dân nghèo và nông dân cũng nổi dậy chống lại Mạc phủ. Cuối cùng, Keiki buộc phải đầu hàng tại đại bản doanh Giang Hộ (Edo) và đến ngày 3 tháng 5 năm 1868, Keiki rời chùa Thượng Dã Khoan Vĩnh Tự đến Mito (Thủy Hộ), nơi triều đình lưu đày Keiki. Dư đảng của gia tộc Tokugawa rút lui về phía bắc Honshū rồi sau đó là Hokkaidō, nơi họ thành lập nước Cộng hòa Hà Di (Ezo). Thất bại trong trận Hakodate khiến họ mất đi căn cứ địa cuối cùng và phe bảo hoàng chính thức nắm quyền lực tuyệt đối trên toàn nước Nhật, hoàn thành giai đoạn quân sự trong cuộc Minh Trị Duy Tân. Ngày 18 tháng 5 năm 1869, Tổng thống Hà Di là Enomoto Takeaki đầu hàng và chấp nhận quyền thống trị của Thiên hoàng Minh Trị. Khoảng 12 vạn binh sĩ được huy động trong cuộc chiến, và có khoảng 3.500 người chết.

Dời đô và đặt niên hiệu mới

thienhoang4.jpg
Thiên hoàng Minh Trị mới 16 tuổi, chuyển từ Kyōto về Đông Kinh, vào cuối năm 1868.

Sau khi hoàn thành việc xóa bỏ chế độ Mạc phủ, ngày 3 tháng 9 năm 1868 Thiên hoàng Mutsuhito xuống chiếu đổi tên thành phố Giang Hộ – đại bản doanh cũ của chính quyền Mạc phủ – thành Đông Kinh (Tōkyō), đồng thời phái người trang trí và xây dựng lại ngôi thành của Mạc phủ thành Hoàng cung mới. Ngày 12 tháng 10 năm 1868, Thiên hoàng chính thức làm lễ đăng quang tại Tử Thần điện ở cố đô Kyotō. Theo đề nghị của các đại thần, ông đặt niên hiệu là Minh Trị, dựa theo câu "Thánh nhân nam diện thính thiên hạ, hướng minh nhi trị" trong chương Thuyết Quái của Kinh Dịch. Đây cũng là thụy hiệu của Thiên hoàng. Điều này đã mở đầu một truyền thống mới: Thiên hoàng chỉ đặt duy nhất một niên hiệu, sau khi ông qua đời nó cũng trở thành thụy hiệu của ông.

Sau lễ đăng quang của mình, Thiên hoàng Minh Trị ra chiếu chỉ Ngũ cá điều ngự thệ văn, ủng hộ hội họp thảo luận, hứa tăng cơ hội cho dân thường, hủy bỏ các hủ tục của thời kỳ trước, và tìm kiếm tri thức trên toàn cầu để “củng cố nền móng Đế quyền”

Ngày 4 tháng 11 năm 1868, triều đình Thiên hoàng rời Kyotō về đóng về đóng đô tại Đông Kinh. Đông Kinh là nơi có những điều kiện thuận lợi về kinh tế, địa lý và chính trị, giúp Thiên hoàng dễ trị vì hơn. Năm 1873, do lâu đài Giang Hộ bị cháy, nên ông phải chuyển sang Nghênh Tân quán. Năm 1874, các khí đốt được ông cho phép nhập và sử dụng để thắp sáng thủ đô Đông Kinh. Đây là lần đầu tiên khí đốt được sử dụng ở Nhật Bản. Ngày 11 tháng 1 năm 1869, ông phong Masako (về sau đổi tên thành Haruko) (9 tháng 5 năm 1849–19 tháng 4 năm 1914), con gái thứ ba của Tả đại thần Ichijō Tadaka (Nhất Điều Trung Hương) làm Hoàng hậu (tức Chiêu Hiến Hoàng hậu).[28] Masako là hoàng phi đầu tiên được phong chức Hoàng hậu (kōgō), trong vòng vài năm.

Những năm đầu làm vua (1868 – 1878)

thienhoang5.jpg
Thiên hoàng Minh Trị trẻ tuổi trong bộ Sokuda, ảnh chụp bởi Uchida Kuichi năm 1872.

Trải qua hàng loạt sự biến trên, cuối cùng thì địa vị chí tôn của Thiên hoàng Minh Trị đã được xác lập. Hoàng gia vốn suy yếu suốt nhiều thế kỷ nay đã phục hồi lại. Nhưng lúc ban đầu, Thiên hoàng Minh Trị không trực tiếp điều hành triều chính. Căn cứ theo Chính Thể thư ban hành năm 1868, quyền lực nằm trong tay một cơ quan tên là Thái Chính quan (bao gồm Nghị Chính quan, Hành Chính quan, Quân Vụ quan, Hình Pháp quan, Hội Kế quan). Trong khoảng thời gian này, các triều thần thuộc phái chống Mạc phủ trước đây là những người nắm thực quyền, họ dùng danh nghĩa của Thiên hoàng để thực thi các cải cách tư bản chủ nghĩa như: bỏ Phiên lập Huyện, cải cách thuế đất, trả lại bản tịch, xóa bỏ hạn chế đối với nông, công, thương nghiệp,… Quyền lực chính trị và quân sự của các phiên hoàn toàn bị bãi bỏ, và các phiên sớm được đổi thành các tỉnh, với thống đốc được Thiên hoàng bổ nhiệm. Triều đình cũng cho người sang các nước phương Tây, học về hệ thống chính trị, quân sự và kinh tế ở những nơi này.

thienhoang6.jpg
Thiên hoàng Minh Trị trẻ tuổi trong bộ quân phục. Cũng là ảnh chụp bởi Uchida Kuichi năm 1873.

Đồng thời các quan viên cũng thực hiện nhiều thay đổi nơi hậu cung và thay đổi cả con người của Thiên hoàng Minh Trị. Đầu tiên, họ cử Motoda Eifu (Nguyên Điền Vĩnh Phù), một người tinh thông Tống Nho làm Thị giảng (thầy dạy học của vua) mới cho Thiên hoàng. Eifu đã dạy Thiên hoàng về Quốc học, Nho học, Thi ca và cũng nhồi nhét tư tưởng lấy đại nghĩa danh phận làm trung tâm. Sau đó Yoshī Tomo (Cát Tỉnh Hữu Thực), bạn thân của Okubo Toshimichi, được bổ nhiện làm Cung nội Đại thừa, cai quản nội cung. Tomo đã tái bổ nhiệm một loạt các Thị tùng trưởng và thị tùng mới cho Thiên hoàng. Tomo cũng giải tán toàn bộ số Nữ quan – tức các thị nữ trong cung – và tiến hành tuyển lựa một số Nữ quan mới với số lượng chỉ bằng 1/3 trước kia và với thực quyền bị hạn chế gắt gao để ngăn không cho họ lạm quyền như trước. Đồng thời, Tomo mời một số cựu võ sĩ của Mạc phủ Tokugawa như Sơn Cương Thiết Thái Lang, Tân Điền Thôn Bát,… vào cung dạy võ thuật, kiếm thuật, cưỡi ngựa,… cho vị Thiên hoàng vốn yếu rất yếu mềm, qua đó cũng gieo tinh thần tôn sùng võ công, ham thích chiến đấu vào ông. Tomo cũng mời một số nhân sĩ có tư tưởng đổi mới để giảng dạy cho Thiên hoàng về phương pháp trị nước và xử thế của giai cấp tư sản cùng nhiều tri thức mới khác. Như Nishimura Shigeki (Tây Thôn Mậu Thọ) dạy cho ông về chính trị và luật pháp của nước Pháp; Hukuhane Mishizu (Phúc Vũ Mỹ Tịnh) dạy ông về sự lập chí của các nước phương Tây; còn Katō Hiroyuki (Gia Đằng Hoàng Chi) – về sau trở thành một cận thần của Thiên hoàng – dạy ông về luật pháp nước Đức. Thiên hoàng cũng học tiếng Đức trong thời gian này.

Sự cải cách trong nội cung đã thay đổi con người Thiên hoàng Minh Trị rất nhiều. Từ một cậu thiếu niên yếu đuối, nhu nhược, suốt ngày chui rúc trong hậu cung để chơi đùa với các cung nữ, ông đã trở thành một con người mạnh khỏe, cường tráng, ham học hỏi, yêu thích võ nghệ, và đặc biệt trở nên rất ghét việc vào hậu cung. Ông đặc biệt rất hâm mộ Napoléon Bonaparte, ông từng hỏi Shigeki rất kỹ lưỡng về thân thế, tính tình, sự nghiệp xưng bá của Napoléon và không ngớt lời khen ngợi việc Napoléon đã từng lập nên một Đế quốc Pháp hùng mạnh. Thậm chí vào năm 1871, ông đã dặn dò phái đoàn khảo sát châu Âu của Imakura là phải sưu tập thật nhiều sách vở nói về vị Hoàng đế Pháp này. Nhân vật Napoléon Bonaparte đã để lại nhiều ảnh hưởng cho Thiên hoàng Minh Trị trong công việc trị quốc sau này.

Những sự chuyển biến về tính cách của Thiên hoàng Minh Trị đã đặt một nền tảng vững chắc cho quá trình đích thân chấp chính của ông sau này.

Quá trình đích thân chấp chính (1878 – 1912)

Phong trào Thiên hoàng chấp chính

Đến những năm 1877 – 1878, chính trường Nhật Bản lúc đó có nhiều biến động lớn. Nhóm Duy Tân tam kiệt, tức ba nhân vật lừng lẫy nhất trong cuộc lật đổ chế độ Mạc phủ lần lượt qua đời. Những người thay thế họ, tức Itō Hirobumi (Y Đằng Bác Văn) và Ōkuma Shigenobu (Đại Ôi Trọng Tín) thì lại có xích mích với nhau. Các công thần của phong trào Duy Tân thì cứ ôm hết đại quyền quốc gia nên thường bị phê phán sau lưng. Thêm vào đó, phong trào Tự do Dân quyền đang phát triển mạnh, nó liên kết với phong trào chống cải cách ruộng đất của địa chủ và đe dọa đến triều đình. Lúc này, triều đình cần có một người cầm lái vững mạnh để ổn định lại tình hình đất nước, và họ nghĩ đến Thiên hoàng Minh Trị.

Tháng 5 năm 1878, những thầy dạy học của Thiên hoàng đã phát động phong trào "Thiên hoàng chấp chính", đòi ông đích thân đứng ra xử lý đại sự quốc gia. Họ kể với ông về cuộc Kiến Vũ tân chính (1333 – 1336) của Thiên hoàng Hậu Đề Hồ, và nhấn mạnh rằng, sở dĩ Hậu Đề Hồ lại tiếp tục để mất quyền bính vào tay Mạc phủ Ashikaga vì Thiên hoàng Hậu Đề Hồ quá tin những thủ hạ chung quanh, không trực tiếp xử lý triều chính. Họ cố khuyên Minh Trị không nên đi theo vết xe đổ của Thiên hoàng Hậu Đề Hồ năm xưa. Lúc này, sau nhiều năm học hỏi việc pháp trị và văn hóa Đông Tây, ông cũng bắt đầu có những chủ trương, chính kiến độc lập đối với việc chính sự; và dĩ nhiên ông cũng mong muốn tự mình đứng ra nắm lấy đại quyền. Đồng thời, người đứng đầu Nội các lúc đó là Nội Vụ khanh Itō Hirobumi cũng cảm thấy một mình khó đối phó với phong trào Tự do Dân quyền cũng như phong trào Thiên hoàng chấp chính, thế là Hirobumi quyết định lựa chọn ủng hộ việc Thiên hoàng Minh Trị đích thân nắm lấy quyền bính, mưu dùng uy tín của Thiên hoàng để đối phó với nhóm Tự do Dân quyền.

Có điều, trong khoảng giai đoạn đầu chấp chính, Thiên hoàng Minh Trị gần như không có ý kiến gì trước các cuộc bàn thảo của triều thần, và ông đều phê chuẩn tất cả các nghị quyết của Nội các. Thiên hoàng cũng dùng uy tín của mình để giúp đỡ Nội các trước những khó khăn, thách thức, trong đó có một việc quan trọng bậc nhất là bóp chết phong trào Tự do Dân quyền.

Đàn áp phong trào Tự do Dân quyền

Tháng 3 năm 1881, một nhóm cựu du học sinh người Nhật ở Pháp bao gồm Tây Viên Tự Công Vọng, Tùng Điền Chính Nghĩa,… sau khi về nước đã đứng ra thành lập tờ báo Đông Dương Tự do Tân văn, chủ trương thành lập nền dân chủ triệt để, truyền bá tư tưởng tự do. Trước đó, vào năm 1880, triều đình được sự ủng hộ của Thiên hoàng đã thông qua "Điều lệ hội họp" và "Điều lệ báo chí" hạn chế gắt gao quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, cấm phát hành các văn kiện bàn bạc về chính trị,… nhưng triều đình không áp dụng ngay với trường hợp của Tây Viên Tự Công Vọng, vì Tây Viên Tự Công Vọng là anh ruột của quan Thị tùng trưởng của Thiên hoàng và có ảnh hưởng chính trị rất lớn. Thay vào đó, triều đình Thiên hoàng cố gắng dùng biện pháp khuyên nhủ, uy hiếp nhằm thuyết phục Tây Viên Tự Công Vọng rút lui khỏi tờ báo nhưng đã không thành công. Cuối cùng, Thiên Hoàng buộc phải dùng đến biện pháp cứng rắn, ra sắc lệnh buộc Tây Viên Tự Công Vọng rút lui khỏi tờ báo và sau đó ra sắc lệnh đóng cửa luôn tờ báo – trước sau ra được 34 số. Để xoa dịu phong trào đấu tranh của quân chúng, tháng 10 năm 1881 Thiên hoàng Minh Trị đã ra một chiếu thư tuyên bố sẽ triệu tập quốc hội vào năm 1890, nhưng quyền hạn của quốc hội sẽ do Thiên hoàng quyết định. Đồng thời ông cũng không quên đe dọa:

“Trẫm đã nói rõ kế hoạch như trên, nếu ai vẫn tỏ ra nôn nóng, vẫn sách động gây sự, làm nguy hại đến an ninh của quốc gia, thì sẽ bị dựa theo quốc pháp mà trừng trị.
Minh Trị Thiên hoàng,

Do bị triều đình Thiên hoàng đàn áp và phân hóa, phong trào Tự do Dân quyền đã nhanh chóng suy yếu. Sau khi Thiên hoàng Minh Trị ngồi vững trên ngai vàng thống trị, ông đã bắt đầu tăng cường địa vị của mình, nắm gọn toàn bộ thực quyền. Chế độ Thiên hoàng cận đại dần đi vào hoàn thiện.

Tăng cường thế lực, gia sản của Hoàng gia

Tháng 2 năm 1882, Iwakura Tomomi – vốn là một nhân vật chống lại nhóm Tự do Dân quyền – đề xuất rằng trước khi soạn thảo Hiến pháp thì cần phải mở rộng tài sản của Hoàng gia. Việc này nhằm đề phòng trường hợp dự toán ngân sách của triều đình bị Quốc hội phủ quyết thì Thiên hoàng có thể sử dụng số tài sản khổng lồ của mình để trang trải kinh phí, trả lương cho quan lại, đảm bảo quân quyền sẽ áp chế dân quyền. Kiến nghị này được Thiên hoàng Minh Trị đồng ý ngay.

Để nhanh chóng tăng cường tài sản cho Hoàng gia, Thiên hoàng đã học theo cách vơ vét tài chính của Mạc phủ trước kia. Trước hết, ông ra tay thu gom một số lớn ruộng đất vào tay mình: từ 1100 đinh ruộng (1 đinh bằng 15 mẫu) sở hữu vào năm 1882, cho đến năm 1886 Hoàng gia đã sở hữu một số ruộng gấp 30 lần như vậy. Khi ban bố Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản (1889), con số này lên tới 1121048 đinh, qua năm sau (1890) tăng gần 3 lần, lên đến 3069533 đinh. Hầu hết số ruộng này nằm ở các vùng như Phú Sĩ, Mộc Tăng, Thiên Thành – đây là những nơi có ruộng đất và bãi chăn nuôi tốt nhất Nhật Bản. Nội sảnh đã phải mở thêm một Cục Ngự dụng để quản lý số ruộng đất khổng lồ đó. Đồng thời, kể từ năm 1882, Thiên hoàng cũng sở hửu một lượng lớn chứng khoán, giá trị lên tới 5 triệu Yên trong cổ phần Ngân hoàng Nhà nước Nhật Bản, 1 triệu Yên trong Ngân hàng Yokohama, 2,06 triệu Yên trong cổ phần công ty du thuyền Nhật Bản. Đây là một con số cực kỳ lớn so với 1 vạn Yên mà Thiên hoàng Minh Trị thừa hưởng từ Phụ hoàng Hiếu Minh.

Như vậy Thiên hoàng Minh Trị đã trở thành địa chủ và tài phiệt lớn nhất Nhật Bản, điều này đã xác lập nền tảng tài chính vững chắc cho sự thống trị của Thiên hoàng.

Khôi phục, củng cố hình ảnh Thiên hoàng

thienhoang7.jpg
Thiên hoàng Minh Trị (1887), mộc bản được in bởi Toyohara Chikanobu (1838 – 1912).

Một biện pháp khác trong việc củng cố quyền lực của Thiên hoàng chính là nâng cao uy tín và ảnh hưởng của mình trong dân chúng. Trước đây, do chính sách cô lập và cách ly của chính quyền Mạc phủ suốt nhiều thế kỷ, hình ảnh của Thiên hoàng rất ít được phổ biến trong dân chúng. Nhiều câu ca dao đã ví Thiên hoàng như "con chim phượng hoàng bị sa cơ, con chim trĩ chạy lửa rừng đang thiêu đốt". Nay Thiên hoàng Minh Trị và triều đình không cho phép chuyện đó xảy ra nữa, Họ dùng đủ mọi biện pháp tuyên truyền để nâng cao uy tín Thiên hoàng.

Triều đình Nhật Bản lúc này đã phát động một phong trào Thần thánh hóa Thiên hoàng khắp trong cả nước. Họ tuyên truyền rằng Thiên hoàng một vị Thần, thậm chí còn có địa vị cao hơn hẳn các vị thần khác vì theo truyền thống của Nhật Bản, Thiên hoàng là con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Một điện thờ được xây trong Hoàng cung, và một hệ thống miếu thờ được xây dựng ở các địa phương trên phạm vi toàn quốc. Năm 1879, triều đình đổi một miếu thờ cô hồn trên đường Cửu Đoạn Bản ở thủ đô Đông Kinh (được xây dựng từ tháng 6 năm 1869) thành Miếu Quốc Thần thờ phụng các chí sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp lật đổ Mạc phủ. Về sau, theo đà phát triển của chủ nghĩa quân quốc Nhật Bản, tất cả những ai chết vì Thiên hoàng – kể cả những tướng sĩ chết trong các cuộc chiến tranh xâm lược, trong đó có những tội phạm chiến tranh – đều được thờ trong Miếu Quốc Thần.

Một tờ cáo thị thời đó đã viết:

Suy nghĩ kỹ đi nào ! Nước Nhật Bản là do tổ tiên của Thiên hoàng khai sáng. Tất cả những gì trên đất nước Nhật Bản đều là của Thiên hoàng. Khi các ngươi vừa sinh ra thì phải dùng nước của Thiên hoàng để tắm, và khi chết đi thì phải chôn xuống đất của Thiên hoàng.

Đồng thời, ngay từ cuối năm 1873, ảnh của ông đã được phân phối đến các huyện để treo ở gian phòng chính, và kể từ tháng 1 năm 1874, triều đình cho phép người dân tới đây để quỳ lạy trước ảnh Thiên hoàng. Việc quỳ lạy ảnh chân dung Thiên hoàng được xem là một nghi thức thiêng liêng thần thánh, trước giờ chưa từng xảy ra. Vì vậy, phàm ai quỳ lạy ảnh Thiên hoàng phải ăn mặc chỉnh tề, sạch sẽ theo lễ phục Nhật Bản; việc nói chuyện ồn ào bị cấm đoán nghiêm khắc. Việc cất giữ ảnh Thiên hoàng trong nhân dân cũng bị nghiêm cấm, ai vi phạm sẽ bị trừng trị theo quốc pháp. Đồng thời, đối với học sinh, chỉ những ai theo học ở các trường lớn, có tiếng tăm mới có "diễm phúc" được quỳ lạy ảnh Thiên hoàng treo trong trường học. Ảnh của Thiên hoàng không được phân phát đến các trường học nhỏ, các trường tư; họ chỉ có thể tổ chức cho học sinh đến các trụ sở huyện hoặc đến các trường học lớn để lạy ảnh Thiên hoàng.

Thiên hoàng cũng liên tục tổ chức nhiều chuyến đi thị sát tại các địa phương, trong suốt 45 năm tại vị ông đã tổ chức đi thị sát cả thảy 96 lần. Mục đích thực chất của các chuyến "vi hành" này chỉ nhằm nâng cao uy thế và gieo vào lòng quần chúng nhân dân hình ảnh "nhân từ" của Thiên hoàng. Chính vì vậy các chuyến vi hành được tổ chức hết sức rầm rộ theo hình thức tiền hô hậu ủng. Phàm ai nhìn thấy lá cờ Thiên hoàng của đoàn vi hành đều phải đứng dạt ra bên vệ đường và ngả mũ cung kính chào. Trong các chuyến "thị sát" kiểu như thế này, Thiên hoàng thường ban phát ân huệ cho những người con hiếu thảo, những tiết phụ, những người già, người nghèo neo đơn không nơi nương tựa, hoặc đến bên bờ ruộng xem nông dân cày cấy, tỏ ra quan tâm đến cuộc sống của người bình dân lao khổ.

Trong việc giáo dục, triều đình Thiên hoàng yêu cầu phải tập trung phổ biến, truyền bá tư tưởng "trung quân ái quốc" cho các học sinh. Sắc lệnh giáo dục năm 1880 quy định nhà trường đối với môn lịch sử phải đặt trọng tâm vào thể chế kiến quốc, tức "Chủ nghĩa hoàng gia là trung tâm" từ Thiên hoàng Thần Vũ lên nối ngôi trở về sau. Năm 1890, Thiên hoàng Minh Trị đích thân ban bố Giáo dục sắc ngữ, lấy việc "phụ tá hoàng vận", "chí trung chí hiếu" làm căn bản, bắt buộc mỗi học sinh hàng ngày phải quỳ lạy trước ảnh Thiên hoàng, phải nhớ nằm lòng "Sắc ngữ" của Thiên hoàng và "Di huấn của Hoàng tổ Hoàng tông". Một đoạn trong "Giáo viên Tiểu học cần biết" soạn thảo năm 1881 có ghi:

…phàm dạy môn lịch sử trước tiên là phải bồi dưỡng chí khí tôn vương ái quốc… Trách nhiệm của giáo viên là phải dạy cho học sinh hiểu rõ việc trung thành với hoàng gia, yêu quốc gia…

Về mặt quân sự, ngày 4 tháng 1 năm 1882 ông ban bố "Quân nhân Sắc luận", ghi rõ:

"Trẫm là Đại nguyên soái của quân nhân các ngươi… là hai cánh tay của các ngươi.", đồng thời quy định rằng các quân nhân phải làm tròn "năm điều quy định của võ sĩ đạo": tận trung, lễ nghĩa, tín nghĩa, trọng võ dũng, tiết kiệm giản dị; đặc biệt "tận trung" được ưu tiên số một. Cụ thể, người quân nhân phải "trung quân ái quốc", phải sùng bái Thiên hoàng như một vị Thần. Tinh thần võ sĩ đạo do Thiên hoàng đề xướng nằm nô dịch hóa trong việc giáo dục quân nhân, biến người lính Nhật Bản thành tên nô lệ cầm súng cho Thiên hoàng, trở thành công cụ cho mục tiêu bành trướng xâm lược của các thế lực quân phiệt Nhật Bản.

Cải cách về việc thiết trí cơ cấu và nhân sự

Thiên hoàng mong thần dân có đủ sức khoẻ, để giúp ông đổi mới và hoà nhập nước Nhật với thế giới bên ngoài. Vì thế, ông bãi bỏ chế độ ăn chay trong toàn dân, lại còn giết và ăn thịt con bò đầu tiên để làm gương cho nhân dân.

Sau khi Thiên hoàng Minh Trị đích thân chấp chính, ông đã tạo ra nhiều thay đổi trong việc bãi miễn, bổ nhiệm nhân sự và thiết trí cơ cấu. Tháng 7 năm 1884, triều đình soạn thảo "Hoa tộc lệnh", gộp chung các công khanh, các lãnh chúa đại danh cũ và các công thần Duy Tân xuất thân từ sĩ tộc thành Hoa Tộc. Những người này sẽ được Thiên hoàng đích thân phong tước vị cho họ, các tước vị này được chia làm năm bậc: công, hầu, bá, tử, nam như phương Tây. Những người này trở thành vây cánh của hoàng gia và củng cố sự thống trị của Thiên hoàng. Như vậy là một chế độ quý tộc mới đã được hình thành tại Nhật Bản.

Đến cuối năm 1885, Thiên hoàng bãi bỏ chế độ Thái chính quan cũ, xây dựng chế độ Nội các dập khuôn theo hình mẫu phương Tây. Đứng đầu Nội các là Tổng lý đại thần (tương đương với Thủ tướng) và Quốc vụ đại thần. Nội các này sẽ là một tổ chức trực thuộc vào Thiên hoàng.

Một cải cách khác về mặt nội chính của Thiên hoàng Minh Trị là ban bố Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản.

Đại Nhật Bản Đế Quốc Hiến pháp năm 1889

Trước sức ép của người dân, như đã nói, triều đình Thiên hoàng đã hứa hẹn sẽ thành lập quốc hội soạn thảo một bản Hiến pháp cho đất nước. Để soạn thảo bản Hiến pháp này, năm 1882 Thiên hoàng Minh Trị đã gửi một phái đoàn do Itō Hirobumi đến các quốc gia ở châu Âu để tham khảo pháp luật của các quốc gia này. Cuối cùng nhóm khảo sát quyết định chọn hiến pháp của Phổ để làm khuôn mẫu cho hiến pháp tương lai của Nhật Bản. Tiếp đó, ông tổ chức một nhóm người bí mật tiến hành việc soạn thảo hiến pháp. Khi thẩm nghị cuối cùng, ông đã cùng với nhóm này tổ chức nhiều cuộc họp kín suốt mấy tháng liền, trong đó mọi người đem bản Hiến pháp ra mổ xẻ kỹ lưỡng, canh từng câu từng chữ, thảo luận, bàn cãi về từng điều khoản một trong đó. Thậm chí khi được tin con gái là Du Nhân bị bệnh mất, Thiên hoàng cũng không rời khỏi cuộc họp mà vẫn tiếp tục bàn luận với triều thần.

Cuối cùng, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhật Bản đã được công bố đúng vào ngày kỷ niệm việc nối ngôi của Thiên hoàng Thần Vũ (11 tháng 2 năm 1889, niên hiệu Minh Trị thứ 22). Hôm đó, Thiên hoàng Minh Trị cùng bá quan văn võ và các sứ thần ngoại quốc đến điện Ô Minh trong Hoàng cung để làm lễ triều bái trước Gương thần Ngự Linh – đại biểu cho Thiên Chiếu Đại Thần – rồi sau đó mọi người lại tới điện Hoàng linh để đọc bản Thần Văn bố cáo lên chư thần cùng hồn thiêng của các đời liệt tổ liệt tông:

Theo đà phát triển của thời đại, cần phải viết ra thành văn bản những lời di huấn của tổ tiên các thời đại, lấy đó làm căn cứ cho con cháu của Thiên hoàng tuân theo, đồng thời, qua sự phụ tá của thần dân mở rộng bước đường của Thiên hoàng để cho tất cả sẽ tuân thủ vĩnh viễn. Cho nên nay mới soạn thảo ra Điển phạm và Hiến pháp của Hoàng gia, kính thỉnh chư thần khen ngợi.

Sau đó, sắc chỉ ban hành hiến pháp được chính thức tuyên bố. Theo Hiến pháp, Thiên hoàng có quyền hành "thiêng liêng bất khả xâm phạm", là Nguyên thủ quốc gia, nắm trọn quyền thống trị. Về mặt đối nội, Thiên hoàng có thể dựa vào hiến pháp để triệu tập hoặc giải tán nghị hội, bổ nhiệm hoặc bãi miễn quan lại và chỉ huy quân đội. Về mặt đối ngoại, Thiên hoàng có quyền tuyên chiến, giảng hòa, ký kết hòa ước. Các cơ cấu của quốc gia được hành xử chức năng và quyền hạn bên dưới Thiên hoàng: nghị hội trợ giúp Thiên hoàng thẩm nghị chính vụ của quốc gia, tòa án lấy danh nghĩa của Thiên hoàng để xét xử, Viện khu mật là cơ quan tư vấn của Thiên hoàng. Đồng thời, theo Hiến pháp, người dân Nhật Bản là "thần dân" của Thiên hoàng, phải thi hành nghĩa vụ của thần dân và không được cản trở Thiên hoàng hành sự đại quyền.

Như vậy là Hiến pháp đã xác lập quyền uy tuyệt đối của Thiên hoàng tại Nhật Bản, duy trì tính "thiêng liêng bất khả xâm phạm" của Thiên hoàng như thời đại quân chủ chuyên chế, và giúp cho Thiên hoàng tập trung toàn bộ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp – tức toàn bộ đại quyền của quốc gia – vào bàn tay sắt cùa mình. Tuy nhiên, Thiên hoàng buộc phải dựa vào các điều luật ghi trong Hiến pháp để thực thi đại quyền của mình, và khi Thiên hoàng lấy danh nghĩa của mình để ban bố các sắc lệnh về pháp luật, quốc vụ thì "phải được quốc vụ đại thần cùng ký tên". Như vậy bản Hiến pháp cũng đã hạn chế ảnh hưởng của Thiên hoàng trong việc triều chính, góp phần giúp Nhật Bản chuyển dần từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến, chính trị đảng phái của giai cấp tư sản.

Những hoạt động ngoại giao

thienhoang8.jpg
Buổi tiếp của Thiên hoàng Minh Trị với phái đoàn quân sự thứ hai của Pháp đến Nhật Bản, 1872.

thienhoang9.jpg
Hoàng thân Arthur phong Cấp bậc Garter cho Thiên hoàng Minh Trị. Đến nay, ông là người châu Á duy nhất nhận Cấp bậc này.

Triều đình Minh Trị không theo đuổi mục tiêu trục xuất các lợi ích ngoại quốc khỏi Nhật Bản, mà thay vào đó là mạnh mẽ chuyển mục tiêu chính trị sang việc tiếp tục hiện đại hóa quốc gia và tái đàm phán các hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc, sau này trở thành khẩu hiệu "Phú quốc, Cường binh" (Nhật: 富国強兵 fukoku kyōhei). Sự thay đổi thái độ với người ngoại quốc này diễn ra trong những ngày đầu của cuộc nội chiến: vào ngày 8 tháng 4 năm 1868, một tấm biển được dựng lên ở Kyōto (và sau này trên toàn quốc) đặc biệt phản đối bạo lực đối với người nước ngoài.[41] Trong chiến tranh Mậu Thìn, đích thân Thiên hoàng Minh Trị tiếp kiến các Công sứ châu Âu, đầu tiên là ở cố đô Kyōto, sau đó là Osaka và thủ đô Đông Kinh. Một việc chưa từng có tiền lệ là buổi tiếp Alfred, Công tước xứ Edinburgh, tại Đông Kinh, "như một người “ngang hàng” với ông về khía cạnh dòng máu".

Mặc dù những năm đầu thời kỳ Minh Trị chứng kiến sự nồng ấm trong quan hệ của triều đình với các cường quốc, quan hệ với Pháp vẫn lạnh nhạt vì sự ủng hộ ban đầu của Pháp với Tướng quân. Tuy vậy không lâu sau đó phái đoàn quân sự thứ hai được mời đến Nhật năm 1874, và phái đoàn thứ ba năm 1884. Sự hợp tác ở cấp cao trở lại năm 1886, khi Pháp giúp đóng hạm đội lớn đầu tiên của Hải quân Hoàng gia Nhật Bản, dưới sự hướng dẫn của kỹ sư hải quân Louis-Émile Bertin.

Ngày 5 tháng 11 năm 1872, Đại công tước Alexei Alexandrovich của nước Nga viếng thăm Nhật Bản, được Thiên hoàng Minh Trị đón tiếp.

Ngày 4 tháng 9 năm 1869, Công tước xứ Edinburgh viếng thăm Nhật Bản, được Thiên hoàng Minh Trị tiếp đón.

Năm 1881, vua Kalakaua của xứ Hawaii thăm Nhật. Đây là lần đầu tiên Nhật Bản được một quân vương ngoại quốc sang thăm viếng.

Năm 1902, Nhật Bản và Anh Quốc thành lập liên minh.[30] Kết quả của việc này là Thiên hoàng Minh Trị được Hoàng thân Arthur xứ Connaught phong Cấp bậc Garter năm 1906.

Những hoạt động bành trướng lãnh thổ

Như xu thế thường thấy thời đó, quá trình phát triển của Nhật Bản không tránh khỏi việc mở rộng thế lực ra bên ngoài. Thêm nữa, vốn được giáo dục bởi chủ nghĩa quân quốc ngay từ thời trẻ, nên trong thời kỳ cầm quyền của mình, Thiên hoàng Minh Trị luôn kiên trì chính sách "kiêm lục hợp" (gồm thu bốn bể) và "yểm bác hoành" (gồm thu toàn cầu), tức chính sách bành trướng xâm lược, mở rộng lãnh thổ ra bên ngoài. Ông gần như lúc nào cũng mặc một bộ quân phục kiểu cổ, để một bộ râu rậm kiểu phương Đông và luôn ngậm một tẩu thuốc làm bằng vỏ đạn súng trường. Ông thích cưỡi một con ngựa to lớn, thường xuất hiện trong các buổi lể tốt nghiệp của sinh viên lục quân hay trong các buổi lể kết thúc một lớp huấn luyện quân sự. Có khi Thiên hoàng đích thân tham gia diễn tập quân sự và thường cho gọi các binh sĩ đến để tuyên dương, khuyến khích "oai nước", đề cao "vận nước" của Nhật Bản.

Ngay từ thập niên 1880, triều đình Minh Trị đã xúc tiến xây dựng một quân đội hùng mạnh nhằm mục tiêu phát động các cuộc chiến tranh xâm lược với lân bang, cụ thể mục tiêu trước mắt chính là Trung Quốc thời nhà Thanh. Tháng 11 năm 1880, Bộ trưởng Bộ Tổng tham mưu Yamagata Aritomo (Sơn Huyện Hữu Bằng) trình lên cho Thiên hoàng bản "Lân bang binh bị lược". Đến năm 1882, "Trình báo về tài chính để tăng cường lục quân và hải quân" được xuất bản, chủ trương gấp rút tăng cường quân bị dù phải chấp nhận hy sinh tất cả. Thiên hoàng tỏ ý hài lòng và cho tiến hành thực thi. Cùng năm đó ông triệu kiến tất cả các Trưởng quan tại các địa phương và ra Thánh chỉ với nội dung: "Các khanh đều là quan địa phương, vậy tất nhiên phải hiểu ý muốn của Trẫm, đảm bảo chấp hành quán triệt những ý muốn đó". Đến tháng 12, Thiên hoàng lại ra sắc chiếu cho Thái Chính đại thần về việc tăng cường quân bị. Dưới sự đốc thúc của Thiên hoàng, quân đội Nhật tăng trưởng nhanh chóng: năm 1893 quân số của lục quân Nhật là 23 vạn người, còn Hải quân sau 10 năm phát triển đã có 55 tàu chiến với tổng trọng tải 7 vạn tấn.

Tuy nhiên, việc thi hành tăng cường quân bị cũng gặp nhiều trở lực lớn. Nhiều đại biểu Nghị viện đã phản đối quyết liệt chính sách tăng cường quân bị do bất mãn với việc quân phí càng lúc càng cao. Nghị hội khóa II (1891) đã tuyên bố không thông qua dự chi quân phí của triều đình và thế là bị Thiên hoàng giải tán. Nghị hội khóa IV (1893) lại tuyên bố cắt giảm chi phí xây dựng hạm đội. Thế là Thiên hoàng quyết định ra lệnh cho bá quan văn võ phải trích 1/10 tiền lương bổng của mình trong 6 năm để đóng góp cho hải quân, bản thân Thiên hoàng cũng tự mình bỏ ra 30 vạn Yên để trang trải chi phí xây dựng hạm đội.

Và tất nhiên, trong quá trình bành trướng, Nhật Bản không tránh khỏi việc va chạm với các thế lực lớn khác, cụ thể lúc bấy giờ là Nga và Trung Quốc thời Nhà Thanh.

Chiến tranh với nhà Thanh

Thấy người Trung Quốc giết hại nhiều thương gia đến từ Okinawa (Nhật), ông phát động chiến dịch chinh phạt Đài Loan vào tháng 5 năm 1874. Người Nhật ép triều đình Mãn Thanh phải bồi thường thiệt hại cho họ, và gia đình các thương gia bị tàn sát. Ngày 26 tháng 12 năm sau, triều đình Nhật Bản ký hoà ước với nhà Triều Tiên, mục đích để tập trung nhân lực và tài trí mà canh tân đất nước.

Năm 1894, ông tuyên chiến với nhà Thanh. Cuộc chiến tranh Giáp Ngọ bùng nổ. Đây là cuộc chiến tranh mà người Nhật đã chuẩn bị từ lâu, vì ngay từ thập niên 1880 họ đã xem Thanh đình là kẻ thù giả định. Để thuận lợi cho việc nắm bắt tình hình chiến sự và tránh việc xao nhãng bởi sự vụ trong cung, Thiên hoàng dời đại bản doanh đến thành phố Hiroshima. Nhằm động viên sĩ khí, ông phái Chiêu Hiến Hoàng hậu đến thăm hỏi các thương binh tại y viện lục quân, còn mình thì liên tục ban sắc lệnh, viết thơ ca để khen tặng những chiến thắng của quân đội Nhật Bản. Thật vậy, quân Nhật liên tiếp giành được thắng lợi, chiếm cảng Lữ Thuận, Liêu Đông, tấn công và cướp phá Trung Quốc. Việc chiếm đóng trên bán đảo Đài Loan được củng cố. Thiên hoàng đã đích thân phổ một bản nhạc mừng chiến thắng ở Hoàng Hải, mô tả cuộc chiến tranh với Thanh đình thành một "cuộc chiến đấu trung dũng nghĩa liệt". Trong thời kỳ hòa đàm sau chiến tranh, Thiên hoàng Minh Trị đích thân chỉ huy tiến độ đàm phán. Ông ra lệnh cho sứ thần Nhật Bản phải ra những điều kiện mà ai nghe cũng phải giật mình. Mãi sau khi Hòa ước Mã Quan (Shimonoseki) được ký kết, ông mới vui vẻ quay về thủ đô Đông Kinh.

Tuy nhiên, có một điều mà ông không tiên liệu được, đó là việc các nước khác không ngồi yên nhìn Nhật Bản bành trướng. Lo ngại trước thế lực đang lên của Nhật Bản, đế quốc Nga cùng với Đức và Pháp đã gây sức ép, buộc Minh Trị nhượng lại đảo Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và Liêu Đông cho Trung Quốc. Thái độ của người Nga khiến Nhật Bản hết sức tức giận, nhưng Thiên hoàng hiểu là không thể gây chiến với nước Nga lúc này. Ông ra chỉ thị cho sứ thần Nhật Bản:

Quyền lợi có được từ Liêu Đông không lớn, có thể bỏ. Sau này chúng ta có thể từ Triều Tiên và các vùng đất khác vơ vét lại.
Minh Trị Thiên hoàng,

Dầu sao thì cuộc chiến tranh Giáp Ngọ đã đem lại cho Nhật Bản một món tiền bồi thường rất lớn (3 tỉ 60 triệu Yên Nhật). Thiên hoàng đem 3 tỷ 40 triệu Yên tăng cường cho quân đội, phần còn lại ông tự tiêu dùng.

Từ năm 1895 đến năm 1898, người nước ngoài ở Bắc Kinh bị tổ chức Nghĩa Hoà Đoàn hạ nhục. Viện cớ “trừng trị phong trào Nghĩa Hoà Đoàn bài ngoại”, Nhật can thiệp vào tình hình Trung Quốc. Trên thực tế, điều này cho thấy Nhật muốn phô trương sức mạnh trước Nga. Để tập trung lực lượng đánh Nga, ngày 31 tháng 1 năm 1902, triều đình Minh Trị ký hoà ước với Anh Quốc, thành lập liên minh Anh-Nhật.

Chiến tranh Nga-Nhật

Người Nhật dĩ nhiên không dễ dàng chịu từ bỏ những vùng đất bị mất vào tay Nga và không bao giờ quên việc Nga đã cưỡng ép họ như thế nào. Họ tích cực chuẩn bị tăng cường lực lượng quân sự và sau 10 năm, thực lực của Nhật Bản tiến thêm một bước đáng kể. Lúc này Thiên hoàng Minh Trị chuyển trọng tâm chủ yếu vào vùng Đông Bắc Trung Quốc, lúc này đã nằm yên dưới thế lực của đế quốc Nga. Ông quyết tâm đòi lại những gì mà người Nga đã cướp đoạt của mình 10 năm về trước. Ngày 4 tháng 2 năm 1904, ông chủ trì một cuộc họp ngự tiền khẩn cấp đề bàn thảo kế hoạch chiến tranh. Sáu ngày sau, Thiên hoàng xuống chiếu thư tuyên chiến với nước Nga. Chiến tranh Nga-Nhật bùng nổ.

Một lần nữa, Thiên hoàng lại dời đại bản doanh tới Hiroshima để điều hành chiến sự. Ông cùng với các tướng lĩnh cao cấp nghiên cứu tình hình chiến sự cho tới tận đêm khuya, đồng thời luôn thắp nhang khấn vái tổ tiên, chư thần phù hộ cho Nhật Bản thắng lợi. Nhờ đường lối sách lược đúng đắn của triều đình Minh Trị, Nhật liên tiếp giành chiến thắng trước Nga trên cả thủy lẫn bộ ở Viễn Đông và Thái Bình Dương. Cuối cùng, chiến thắng lẫy lừng tại Đảo Đối Mã đã quyết định cuộc chiến. Những vùng đất rộng lớn như Mãn Châu, thành phố cảng Lữ Thuận (thuộc Trung Quốc) đều rơi vào tay Nhật Bản. Người Nhật trên thực tế đã trở thành bá chủ tại khu vực biển Đông.

Sáp nhập Triều Tiên

Năm 1910, bán đảo Triều Tiên bị sáp nhập vào đế quốc Nhật Bản[3], vương triều Triều Tiên cáo chung. Một nhà cách mạng Triều Tiên là An Trọng Căn (An Jung-geun) đã ám sát Itō Hirobumi – người chủ mưu trong kế hoạch sáp nhập Triều Tiên vào Nhật Bản. Có ý kiến cho rằng An Trọng Căn hâm mộ Minh Trị Thiên hoàng và phê phán Itō Hirobumi là kẻ phá hoại sự nghiệp của Minh Trị. Đó là một trong những lý do An ám sát Ito Hirobumi.

Những cuộc nổi dậy và vụ ám sát thời Minh Trị

Khoảng cuối thập niên 1860 đến 1881 chứng kiến một thời kì của những cuộc nổi dậy và vụ ám sát ở Nhật Bản, tiêu biểu như:

* Bất chấp sự ủng hộ triều đình của tầng lớp võ sĩ samurai, nhiều cải cách đầu thời Minh Trị đã gây bất lợi cho lợi ích của họ: thành lập quân đội theo chế độ nhập ngũ từ dân thường, mất đi uy tín và lương bổng cha truyền con nối đã tạo nên sự đối kháng với rất nhiều cựu samurai[52] cũng như không được mang gươm khi đi ngoài đường theo chiếu chỉ của Thiên hoàng Minh Trị (28 tháng 3 năm 1875). Sự căng thẳng dâng cao ở miền Nam, dẫn đến Cuộc nổi loạn Saga năm 1874, và nổi loạn ở Chōshū năm 1876. Các cựu samurai ở Satsuma, lãnh đạo bởi Saigō Takamori (Tây Hương Long Thịnh), người đã ly khai triều đình vì bất đồng với chính sách đối ngoại, bắt đầu cuộc Chiến tranh Tây Nam năm 1877. Lúc đó, Saigō chưa chuẩn bị cho cuộc bạo loạn. Nhưng những samurai địa phương nghe được tin rằng triều đình cử người tới giết Saigō. Họ bèn khởi xướng một chiến dịch tấn công Đông Kinh để đương đầu với triều đình Minh Trị và giúp Thiên hoàng thoát khỏi “đám cố vấn xấu xa” của ông. Chiến đấu để bảo tồn tầng lớp samurai và một chính quyền đạo đức hơn, khẩu hiệu của họ "Tân chính, Hậu đức" (Nhật: 新政厚徳 shinsei kōtoku?). Cuộc chiến tranh chấm dứt bằng trận đánh anh hùng nhưng hoàn toàn thất bại Shiroyama. Saigō đã tự sát bằng cách mổ bụng truyền thống của người võ sĩ, gọi là seppuku, và được triều đình Minh Trị ân xá năm 1891.

* Năm Minh Trị thứ 10 (1878), Bộ trưởng Nội vụ Ōkubo Toshimichi bị ám sát. Với sự kiện này, thế hệ lãnh đạo thứ nhất của cuộc cách mạng Minh Trị hầu như hết người. Quyền hành trong triều đình Minh Trị được chuyển sang cho thế hệ lãnh đạo cách mạng thứ hai, bao gồm các ông Itō Hirobumi, Yamagata Aritomo.

Cuối triều Minh Trị, nhiều người theo chủ nghĩa vô chính phủ, trong đó có Kōtoku Shūsui (Hạnh Đức Thu Thủy), bị xử tử vì tội phản nghịch, nói cách khác là tội mưu sát Thiên hoàng. Cuộc âm mưu này được gọi là “Đại nghịch sự kiện” (大逆事件, Taigyaku Jiken).

Qua đời

thienhoang10.jpg
Lễ quốc tang Minh Trị Thiên hoàng.

Ngày 30 tháng 7 năm 1912, ông qua đời do bệnh ung thư dạ dày, hưởng thọ 60 tuổi, được đặt thụy hiệu là Minh Trị Thiên hoàng. Ông là vị Thiên hoàng đầu tiên ở ngôi qua tuổi 50, kể từ khi Thiên hoàng Chính Thân Đinh thoái vị năm 1598.

Chi tiết về Lễ quốc tang được đăng trong tờ thời báo New York với lời nhận xét:

The contrast between that which preceded the funeral car and that which followed it was striking indeed. Before it went old Japan; after it came new Japan.

Tạm dịch:

Sự tương phản giữa phía trước và phía sau cái chết của người này thật sự gây ấn tượng. Phía trước là một Nhật Bản cũ; phía sau là một Nhật Bản mới.”

Hoàng thái tử Yoshihito (Gia Nhân) lên nối ngôi, tức là Thiên hoàng Đại Chính – vị Thiên hoàng thứ 123 trong lịch sử Nhật Bản. Năm 1920, Thiên hoàng Đại Chính xuống lệnh xây dựng Minh Trị Thần Cung để kỷ niệm phụ hoàng. Và từ năm 1927, Thiên hoàng Chiêu Hòa tuyên bố ngày 3 tháng 11 – sinh nhật của Thiên hoàng Minh Trị – trở thành một ngày lễ mang tên "lễ Minh Trị".

Di sản
thienhoang11.jpg
Dòng dõi Hoàng gia từ thời Thần Vũ Thiên hoàng đến Minh Trị Thiên hoàng.

Với bản tính can đảm, quyết đoán trong các đường lối sách lược và hết mực thương dân, ông được xem là đấng minh quân ở Nhật Bản. Triều đại ông được ghi chép vào sử sách cận đại như một giai đoạn canh tân đất nước Mặt trời mọc. Minh Trị Duy Tân, cuộc đổi mới do triều đình Minh Trị thực hiện, được xem là cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Tuy nhiên, cuộc Minh Trị Duy Tân đã dẫn đến các thay đổi lớn lao trong cấu trúc xã hội và chính trị Nhật Bản, cũng như đem lại niềm vinh dự cho nước này: đưa nước Nhật thoát khỏi chế độ phong kiến và nguy cơ trở thành thuộc địa của các đế quốc phương Tây, tiến lên chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại. Trong quá trình này, Thiên hoàng Minh Trị đã đóng góp rất nhiều công sức giúp cho các thế lực duy tân đánh bại chế độ Mạc phủ, tiến hành cải cách đất nước, đưa Nhật Bản đi lên con đường phồn vinh, phú cường.

Trong Sử Trung Quốc (1997), học giả Nguyễn Hiến Lê ghi nhận:

…công việc duy tân ở Nhật tiến rất mau, chỉ từ 1872 đên 1900 đã theo kịp Âu Mĩ, năm 1905 thắng được một nước bạch chủng là Nga. Sử gia Mỹ Eberhard bảo như vậy là nhờ từ mấy thế kỷ trước Nhật đã có một giai cấp tư bản bourgeois (tức thương nhân) “cộng sinh” với giai cấp chư hầu (feudataire) lớn, giai cấp trên (bourgeois) để chuyển qua chế độ tư bản, còn giai cấp sau biến thành bọn đế quốc kiểu Âu.
Có thể đó là một lý do quan trọng. Lý do chính là Minh Trị Thiên Hoàng sáng suốt, nhiệt tầm vì quốc gia dân tộc.”

Nguyễn Hiến Lê

Dưới triều đại Minh Trị, nền văn hoá Tây Âu lan truyền vào Nhật Bản, được áp dụng trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, triều đình không áp đặt cái tư tưởng tự do, chế độ gia đình Tây Âu lên nước Nhật. Theo Mười hai người lập ra nước Nhật, cách gạn lọc này được gọi là “hồn Nhật Bản, tài Tây Âu”. Truyền thống tư tưởng này khiến cho người Nhật luôn tiếp nhận những cái mới mẻ về văn hoá, kỹ thuật của nước ngoài. Dù là người chủ trì dự thảo và ban hành Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản (1889), thiết lập Nghị viện, phổ cập giáo dục, phát triển công nghiệp, cách tân xã hội, hiện đại hóa quân đội, ông không quay lưng với những truyền thống lâu đời, chẳng hạn như quyền lực của Hoàng gia.

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, cuộc Minh Trị Duy Tân cũng có ảnh hưởng lớn đến các phong trào kháng chiến chống đế quốc thực dân phương Tây ở Trung Quốc, Việt Nam và các nước Đông Nam Á. (xem thêm bài Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ)

Song, sự phát triển của kinh tế Nhật Bản khiến giai cấp công nhân Nhật Bản ngày càng bị bóc lột nặng nề và điều kiện làm việc ngày càng tồi tệ dẫn đến sự đấu tranh của giai cấp công nhân. Năm 1901, đảng Xã hội Dân chủ Nhật Bản được thành lập.[63] Đồng thời, việc bóp chết phong trào Tự do và Dân quyền, những hoạt động bành trướng lãnh thổ do Thiên hoàng Minh Trị khởi xướng đã góp phần đem đến những tai họa cho các nước Đông Á và Đông Nam Á, kể cả nhân dân Nhật Bản.

Từ thời kỳ Minh Trị (1868 – 1912) sang thời kỳ Đại Chính (1912 – 1926), Nhật Bản phát triển nhanh chóng với những thành công trong và ngoài nước.

Trong văn hóa

Minh Trị Thiên hoàng đã sáng tác một bài thơ hoà bình theo thể tanka như sau:

“よもの海
みなはらからと
思ふ世に
など波風の
たちさわぐらむ”

“Yomo no umi
mina harakara to
omofu yo ni
nado namikaze no
tachi sawaguramu”


Tạm dịch:

Tất cả các đại dương trên thế giới
Hãy tin rằng
đều là bạn bè của tôi
chúng ta không nên xung đột lẫn nhau
[sửa]Trong phim ảnh
Bài chi tiết: Võ sĩ đạo cuối cùng


Nam diễn viên Shichiosuke Nakamura vào vai Thiên hoàng Minh Trị trong phim Võ sĩ đạo cuối cùng của Hollywood, công chiếu năm năm 2003. Phim kết hợp một hoàn cảnh lịch sử thuộc về cả chiến tranh Mậu Thìn và Chiến tranh Tây Nam năm 1877, và vài cuộc nổi loạn của tầng lớp cựu samurai đầu thời Minh Trị. Trong phim, do ông còn trẻ nên bị tài phiệt Omura – 1 kẻ bán nước – lấn lướt, ép phải thực hiện theo chiêu bài “hiện đại hóa” của Omura. Thiên hoàng có thông điệp vĩ đại trước triều đình như sau:

Tổ tiên ta đã cai trị nước Nhật này từ 2.000 năm qua. Trong suốt thời gian đó, chúng ta đã ngủ vùi. Đêm qua, khi ngủ ta đã nằm mơ. Mơ thấy thống nhất đất nước. Mơ thấy một đất nước hùng mạnh, độc lập và hiện đại.”
Minh Trị Thiên hoàng

Cũng trong phim, ông là vị Thiên hoàng thích canh tân đất nước, nhưng không bị những cái mới của phương Tây làm hoa mắt:
“Giờ đây chúng ta đã thức giấc. Chúng ta nay đã có đường sắt và quần áo phương Tây. Thế nhưng, chúng ta không được phép quên chúng ta là ai, đến từ đâu…”
Minh Trị Thiên hoàng
Gia quyến

Song thân

Cha: Thiên hoàng Hiếu Minh
Mẹ: Nakayama Yoshiko, hoàng phi của Thiên hoàng Hiếu Minh

Vợ

Hoàng hậu: Ichijo Masako, Chiêu Hiến Hoàng hậu. Ngày 2 tháng 9 năm 1867 đổi tên thành "Mỹ Tử" (Haruko). Mặc dù là hoàng hậu Nhật Bản đầu tiên được công chúng thừa nhận, bà lại không có con với Thiên hoàng.

Các hoàng phi

* Thị nữ Mitsuko (1853 – 1873), không có nhiều thông tin về thị nữ Mitsuko, dù vậy bà đã sinh cho Thiên Hoàng người con trai đầu lòng. Bà mất khi sinh đẻ.

* Thị nữ Natsuko (1856 – 1873), không có nhiều thông tin về thị nữ Natsuko, dù vậy bà đã sinh cho Thiên Hoàng người con gái đầu lòng và cũng chết khi sinh đẻ.

* Yanagiwara Naruko (1855 – 1943)

* Chigusa Kotoko (1855 – 1944)

* Sono Sachiko (1867 – 1947)

Con cái

Ông có 15 người con, được sinh bởi các thị nữ chính thức. Chỉ có 5 người con của ông, một hoàng tử con của thị nữ Naruko (1855–1943), con gái của Yanagiwara Mitsunaru, và 4 công chúa con của thị nữ Sachiko (1867–1947), con gái cả của Bá tước Sono Motosachi, không bị chết yểu. Họ bao gồm:

* Hoàng thái tử, Minh cung Thân vương Yoshihito (Haru no miya Yoshihito Shinnō), con trai thứ ba, (31 tháng 8 năm 1879 – 25 tháng 12 năm 1926) (tức Thiên hoàng Đại Chính).

* Chiêu cung Công chúa Masako (Tsune-no-miya Masako Naishinnō, つねのみや まさこ, 常宮昌子内親王), con gái thứ 6, (30 tháng 9 năm 1888 – 8 tháng 3 năm 1940), kết hôn với Hoàng thân Takeda Tsunehisa (Takeda-no-miya Tsunehisa ō, 22 tháng 9 năm 1882 – 23 tháng 4 năm 1919) ở Hoàng cung, Đông Kinh, 30 tháng 4 năm 1908, và có con

* Chu cung Công chúa Fusako (Kane-no-miya Fusako Naishinnō, かねのみや ふさこ, 周宮房子内親王), con gái thứ 7, (28 tháng 1 năm 1890 – 11 tháng 8 năm 1974), kết hôn với Hoàng thân Kitashirakawa Naruhisa (Kitashirakawa-no-miya Naruhisa ō, 1 tháng 4 năm 1887 – 2 tháng 4 năm 1923) ngày 29 tháng 4 năm 1909 ở Hoàng cung, Đông Kinh, và có con.

* Phú cung Công chúa Nobuko (Fumi-no-miya Nobuko Naishinnō, ふみのみや のぶこ, 富美宮允子内親王), con gái thứ 8, (7 tháng 8 năm 1891 – 3 tháng 11 năm 1933), kết hôn với Hoàng thân Asaka Yasuhiko (Asaka-no-miya Yasuhiko ō, 2 tháng 10 năm 1887 – 13 tháng 4 năm 1981) ngày 6 tháng 5 năm 1909 tại Hoàng cung, Đông Kinh, và có con.

* Thái cung Công chúa Toshiko (Yasui-no-miya Toshiko Naishinnō, やすのみや としこ, 泰宮聡子内親王), con gái thứ 9, (11 tháng 5 năm 1896 – 5 tháng 3 năm 1978), kết hôn với Hoàng thân Higashikuni Naruhiko ngày 18 tháng 5 năm 1915 (Higashikuni-no-miya Naruhiko ô, 3 tháng 12 năm 1887 – 20 tháng 1 năm 1990), và có con.

Các con của Minh Trị Thiên hoàng:

* Một hoàng tử, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1873, nhưng qua đời cùng ngày, con của thị nữ Mitsuko
* Một công chúa, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1873, nhưng qua đời cùng ngày, con của thị nữ Natsuko
* Mai cung Công chúa Shigeko, (25 tháng 1 năm 1875 – 8 tháng 6 năm 1876), con của thị nữ Naruko
* Kiến cung Thân vương Yukihito, (23 tháng 9 năm 1877 – 26 tháng 7 năm 1878), con trai của thị nữ Naruko
* Hoàng thái tử, Minh cung Thân vương Yoshihito
* Tư cung Công chúa Akiko, (3 tháng 8 năm 1881 – 6 tháng 9 năm 1883), con của thị nữ Kotoko
* Tăng cung Công chúa Fumiko, (26 tháng 1 năm 1883 – 8 tháng 9 năm 1883, con của thị nữ Kotoko
* Cửu cung Công chúa Shizuko, (10 tháng 2 năm 1886 – 4 tháng 4 năm 1887), con của thị nữ Sachiko
* Chiêu cung Thân vương Michihito, (1887 – 1888), con của thị nữ Sachiko
* Chiêu cung Công chúa Masako, (30 tháng 9 năm 1888 – 8 tháng 3 năm 1940), con của thị nữ Sachiko
* Chu cung Công chúa Fusako, (28 tháng 1 năm 1890 – 11 tháng 8 năm 1974), con của thị nữ Sachiko
* Phú cung Công chúa Nobuko, (7 tháng 8 năm 1891 – 3 tháng 11 năm 1933), con của thị nữ Sachiko
* Mãn cung Thân vương Teruhito, (1893 – 1894), con trai của thị nữ Sachiko
* Thái cung Công chúa Toshiko, (11 tháng 5 năm 1896 – 5 tháng 3 năm 1978) con của thị nữ Sachiko
* Trinh cung Công chúa Takiko, (1897 – 1899), con của thị nữ Sachiko
Xem thêm bài viết liên quan

Bài viết cùng danh mục