Ikebana – Hoa đạo Nhật Bản(II)

Bài học cuối cùng của nghệ thuật cắm hoa có nguồn gốc tôn giáo nơi trường phái Saga cùng với sáu yếu tố của Phật Giáo Shingon: đất, nước, gió, lửa, không gian, và hiểu biết.


Nguồn gốc của trường học Ikebana: Ikenobo
Lịch sử của Ikebana bắt đầu cùng với Lịch sử của Ikenobo- trường học cổ xưa nhất về Ikebana. Trường học này bắt đầu được dựng từ một thầy tu của đền Rokkakudo – tên là Shiun-ji ở Kyoto, người có những kỹ năng sắp xếp các bông hoa đặc biệt đến nối mà các thầy tu khác nhìn ông như một người thầy vậy. Như ông ta sống bên cạnh cái hồ, vì từ Nhật Bản là Ikenobo, cái tên Ikenobo trở nên gắn liền với những thầy tu chuyên về trang trí hoa trên bàn thờ phật.
Đền Rokkakudo được dựng vào năm 587 bởi Hoàng tử Shotoku. Người ta kể rằng Hoàng tử Shotoku đang đi tìm những nguyên liệu để xây đền Shitenno. Trong quá trình tìm kiếm, một ngày hoàng tử đi tắm bên cạnh một cái ao, nơi mà chàng đã treo một chiếc dây chuyền có hình phật lên một cái cây gần đó. Sau khi tắm, chàng cố vứt bỏ cái dây chuyền, nhưng không thành công trong việc đó. Trong đêm hôm ấy, Hoàng tử gặp phật tổ trong giấc mơ. Ngài chỉ dẫn chàng phải dựng một cái đền gần cái ao tại chỗ cây tuyết tùng dưới một đám mây màu tím. Từ gỗ tuyết tùng đền Rokkakudo được dựng lên để làm nơi đặt tượng phật Kannon (Quan-Yin)

Sự phát triển của các phong cách


Nhiều kiểu mẫu phát triển bởi những năm cuối của thế kỷ 15, sự trang trí hoa trở nên thông thường đến nỗi những người bình thường cũng có thể tự làm, tự đánh giá, chứ không chỉ ở những gia đình quyền quí mới làm những việc này. Như vậy, nó bắt đầu phát triển như là một dạng nghệ thuật với những yêu cầu nhất định. Sách hướng dẫn được viết, cổ nhất là Sendensho, một kiểu hướng dẫn được biên soạn từ năm 1443 đến 1536.

Nghệ nhân nổi tiếng
Junichi Kakizaki
Mokichi Okada
Shogo Karizayaki
Kosen Ohtsubo
Con đường cuả hoa
Sầu Đông
Qua vùng đất ruộng trồng củ cải và lúa gạo là những đồi thông, ta thấy một ngôi đền xưa tên gọi Daikaku-ji nằm ở phía đông bắc Kyoto. Chốn tôn nghiêm này là cái nôi của tông phái Shingo do Kukai thiết lập vào thế kỷ thứ chín. Kukai là bậc đại sư, đấng thánh , học giả, và cũng là một nhà thơ. Daikaku-ji là cung điện mùa hạ xưa của hoàng đế Saga, kẻ trị vì cùng một thời đại với đại sư, cũng là người yêu chuộng và bảo toàn nghệ thuật. Đại sư cùng thời với hoàng đế trong Thời Đại Heian, kỷ nguyên vàng son của những thành tựu văn hóa và nghệ thuật kéo dài trên ba thế kỷ. Tới nay dã trên một ngàn một trăm năm, Daikaku-ji không chỉ là một ngôi đền có tính cách lịch sử nổi bật, mà còn là đầu não quốc tế của trường phái cắm hoa Saga Goryu School of Ikebana.
Từ ikebana thường được dịch là " cắm hoa theo kiểu Nhật ", nói văn vẻ là "gìn giữ nét sinh động của hoa" hoặc "gìn giữ tinh túy của thiên nhiên trong một bình hoa". Qua việc tìm học một hệ thống phức tạp về luật lệ, những nguyên tắc nghệ thuật, cùng ý nghĩa tượng trưng, và trong lúc quan sát vẻ đẹp và bình lặng của thiên nhiên, người thực hành nghệ thuật cắm hoa tìm cách phối hợp những khái niệm an bình trong học thuyết của nhà Phật, với hài hòa và lòng sùng kính trong đời sống hành ngày. Đi tìm hoa đạo (kado) là đi tìm đời sống tâm linh qua nghệ thuật cắm hoa.(1)
Mặc dầu Nhật Bản có nhiều trường phái cắm hoa, nhưng trường phái Saga Goryu là trường phái lâu đời nhất. Truyện kể hoàng đế Saga đã hái một bó hoa cúc mọc trên một trong hai tiểu đảo giữa một hồ nhỏ có tên là Osawa nằm trong chùa Daikaku-ji, và cắm hoa theo ba hướng nhằm diễn tả trời, đất, và người. Trường phái Saga thành hình từ đây.
Nằm giữa những cổ tự và tượng Phật, hồ Osawa từ đó đến nay hầu như không thay đổi. Tùy mùa, những người ngoạn cảnh từ khắp nơi trên đất Nhật đến ngắm những cội đào nở hoa, những bức hoành, liễn diễn lại những cảnh của thời kỳ Heian khi các mệnh phụ quí tộc mặc đến mười hai tấm kimono lụa trong những màu sắc hài hòa khác nhau- ung dung trên những thuyền phượng. Vào mùa thu, những vườn bên trong ngôi đền toàn những cúc đại đóa, là loài hoa của dân tộc và là biểu tượng của lòng truộng trinh. Những cội cây xum xuê, được tạo thành hình tượng trời, đất, người nằm trong khuôn viên của những vườn bằng đá sỏi trắng và giữa những hàng hiên cổ kính qua nhiều thế kỷ.
Để vào khu vực bên trong, du khách vào quần thể Daikaku-ji quanh cây cầu bằng đá, dầy lên với rêu và địa y. Vào tháng mười một, những cây lá phong Nhật Bản nở rực rỡ điểm những lối dẫn đến cánh cửa gỗ khổng lồ. Vào trong là những lối đi uốn khúc, bên những chấn song có bản lề, chạy luồn qua những vườn rêu phủ, dẫn đến những miếu, những hàng hiên ngoạn cảnh và những góc u tịch. Ngôi đền nối liền với trường học và phòng ngủ của học viên bằng những viên đá làm nhịp bước và những hành lang được chăm sóc rất mỹ thuật, cho thấy cảnh quan hình tam giác nơi chư tăng cùng thương nhân làm việc, nghiên cứu, và thực hành Phật Giáo hệ Shingon, một tông phái dùng tụng niệm, tham thiền và thân pháp nhằm đạt đến trí huệ.
Mọi ngày bắt đầu từ 5 giờ sáng, mọi người họp nhau trong một phòng tham thiền lớn có trải thảm (tatami), đợi chư tăng đến.. Khi cánh cửa chính mở ra, mọi người cúi rạp xuống nền thảm trong lúc các nhà sư đi ngang. Các sư mặc áo thụng bằng lụa đen, lót bên trong là áo lụa trắng, chân mang vớ trắng, với tấm khăn màu vàng nghệ vắt ngang vai trái. Phía dưới cổ của những y trang truyền thống xếp theo lớp lang này là một xấp lụa bằng phẳng, và một cây quạt bằng gỗ trông giống như một vi cá chép.
Chư tăng ngồi một khoảng riêng trong nội sảnh, ngăn bằng những song gỗ. Những hình ảnh của Dainichi Nyorai (Phật), và shogonkas ( cách trưng hoa thường thấy nơi các bệ thờ Phật ) và những đồ vật bằng vàng sáng lấp lánh tượng trưng cho sự giác ngộ dùng trang hoàng bệ thờ. Khi chư tăng an vị và ngay ngắn xếp lại vạt áo, ta chỉ nghe tiếng áo lụa cọ vào nhau. Lần lượt các vị này đều vào thế ngồi ngay ngắn của mình trong khi một nhà sư trẻ bắt đầu nghi thức trang trọng bằng cách đem một kinh sách thiêng liêng từ trên bệ thờ xuống dâng cho sư trưởng. Một tu sinh bắt đầu ngân nga bài Hannya-haramita shingyo và tiếp theo là tiếng hòa đồng của các vị khác. Giọng nam trầm dịu, hòa với điệu bổng trầm, làm tăng bầu khí trang nghiêm trong Tam Mật Thức ( Three Mystic Practices) của vị thế nghiêm chỉnh, thiền quán, và tụng niêm.
Sau buổi lễ sáng, khách thăm viếng, học viên thường, và tăng chúng cùng ăn với nhau ở trai phòng một bữa điểm tâm gồm cơm, cá, dưa muối, và trà. Bữa ăn nhẹ và lành hổ trợ cho kỷ luật hành giáo và nghiên cứu hoa đạo (kado), gồm một loạt các lớp học về nghệ thuật cắm hoa, bắt đầu bằng việc giới thiệu hai mươi tám điều kị trong việc chọn và tỉa bằng cây hoa. Nhiều qui luật này có thể diễn giải một cách tượng trưng và xem như là bản điều hướng cho không chỉ nghệ thuật cắm hoa mà còn là cho cung cách sống thích đáng.
-Đừng cắm hoa nếu ta không biết tên loài hoa. ( Vì chứng tỏ ta không tôn trọng loài hoa).
-Không dùng những cành quá rối. ( Vì làm thế nó gợi nhớ đến những việc làm nghịch ý cha mẹ mình, đi ngược lại những lời dạy của Đức Khổng ).
-Không dùng những cành chỉa thẳng lên trời, hoặc cắm thẳng xuống đất, mẹ của chúng ta, và không dùng những cành chỉa vào nhau ( trời, đất và người được xem là thiêng liêng, và chỉa vào nhau có thể xem là thô tục ).
-Không dùng những cành có hai nhánh mọc ra theo hai hướng ngược nhau. (Việc này sẽ tạo hiềm khích, ngược lại với nguyên lý hài hòa).
-Không làm gì ngược lại sự tăng trưởng của cây hoa. ( Hàm nghĩa ta phải thành thật với chính mình. ).
Trong một cái tô thấp, nhỏ, màu đen, bà giáo đặt một lá bắp nghiêng 45* và cạnh đó là lá cây huyết dụ (dracaena) và hoa freesia ( một loại hoa gốc Châu Phi, có hương thơm), và giữ sao không có khoảng cách nào giữa các cọng để gây cảm tưởng là chỉ có sự thuần nhất mà thôi. Muốn cho thấy những dạng khác, bà giáo cắt gai và tỉa một cành mộc qua (quince) và thay lá bắp bằng những vật liệu mới trong lúc giải thích những nguyên tắc sai no hana – một kiểu cắm hoa mang tính cách tôn trọng môi sinh- dành cho nghệ thuật cắm hoa vào thế kỷ thứ hai mươi mốt này, là dùng ít hoa đế tạo những đường nét đơn giản, thanh thoát. Bà giáo cắm hoa một cách tự tin, những cử động của bà dễ dàng và duyên dáng. Chỉ trong ít phút, bà đã hoàn tất việc cắm một bình hoa mà các thành phần tạo thành bồn hoa không đối xứng nhau. Điều này gây trong ta cảm giác bình yên, thanh thản. Nhìn ngắm công trình cắm hoa như vậy, người thưởng ngoạn nhớ tới lời lời dậy của trường phái Shingon rằng những sáng tạo nghệ thuật chính là những vị Phật, rằng thiên nhiên, nghệ thuật, và tôn giáo là một; rằng mọi người hàm chứa khai ngộ nơi bản tâm mình nhưng sống trong vô minh cho tới khi thức tỉnh.
Bà giáo tiếp tục viết hai mươi tám điều kị trên bảng trong khi học viên cần mẫn chép lại.
-Đừng cắm hoa để chúng chồng lên nhau. (Mỗi bông hoa, như mỗi con người tỏa sáng cho chính mình.)
-Đừng cắm hoa thành hình mũi tên chỉa về phía khách của mình. (Điều này khiến ta liên tưởng đến bạo hành, và như vậy ngược lại với nguyên tắc hài hòa.)
-Đừng dùng những cọng có cùng bề rộng, hãy nghĩ những cọng hoa như những dây đàn samisen. ( Những bề dầy khác nhau làm ta liên tưởng tới những sắc độ khác nhau, là tinh hoa của những phức hợp.)
-Hoa không dàn ra trước mặt khách như một tấm gương. (Hàm ý tự phô trương lộ liễu, thiếu khiêm tốn.).
-Không sắp hai lá trực tiếp đối nhau. Tỉa bớt một lá. ( Tránh tranh chấp, vì như thế có thể dẫn tới ẩu đả.).
-Không sắphoa như thể chúng ôm lấy nhau. (Hãy đứng riêng mình, mạnh mẽ và độc lập).
Một khi những luật này được thiết lập, lớp học quay sang nhiệm vụ của thức morimono, một trong năm biến thiên của Bunjika. Bunjin có nghĩa là "người có văn hóa" và xuất xứ từ chữ Bunjinga, một trường phái vẽ du nhập vào đất Nhật từ thế kỷ mười tám. Bunjinga kết hợp tự do và phối trí và dàn cảnh trong lúc vẫn giữ những nguyên tắc nghệ thuật về cân đối và hài hòa. Cách cắm hoa này lấy những cách đặt tên cho tác phẩm bằng ý nghĩa tượng trưng của các loại hoa- chẳng hạn như thông được xem như tuổi trẻ miên viễn, và hoa hồng là mùa xuân bất tận- hoặc từ những bài thơ hay phong dao của Truộng Hoa. Cắm theo lối morimono thì dai ( khay bằng tre hoặc gỗ) được lấy ra từ một nhà kho lợp bằng những kèo gỗ dầy bằng thân cây với những kệ võng xuống dưới sức nặng của những bình gốm làm bằng tay.
Trên khay tre hoặc gỗ ấy ( nên nhớ là những dạng hình vuông không được chuộng lắm, vì quá cân đối), các học viên đặt một trái dưa qua một bên, xem xét cách phối hợp màu sắc, trình bày cà rốt, ớt, và nấm theo những hình thể bất cân xứng, và được lưu ý là những nhóm ba và năm tốt hơn là bốn hoặc sáu, và tuy thế nhóm hai vẫn được chấp thuận. Đắng đi với ngọt là tốt, màu chàm đi với màu đỏ là tốt – tất cả đều là một phần trong toàn thể tĩnh động.
Bài học cuối cùng của nghệ thuật cắm hoa có nguồn gốc tôn giáo nơi trường phái Saga cùng với sáu yếu tố của Phật Giáo Shingon: đất, nước, gió, lửa, không gian, và hiểu biết. Một cách tượng trưng thì sáu yếu tố này hàm chứa những khía cạnh khác nhau của bản thể – Phật; mỗi tố chất hoàn thiện phần riêng của mình mà vẫn không xa rời tổng hòa. Đất diễn tả núi và ruộng đồng nhưng cũng là xương, là thịt; nước là biển cả và sông ngòi nhưng cũng là máu và nước mắt; lửa cùng lúc là ánh sáng cùng với thân nhiệt; và gió là hơi thở.
Ta có thể dùng nhiều vật liệu khác nhau trong kiểu shogonka, nhưng trong bài học này bà giáo sử dụng những nhánh lau dài tượng trưng lửa và nước, một cành đỗ quyên đã tỉa (azalea) tựong trưng cho gió, những lá dương xỉ mịn màng cho đất, hoa loa kèn hồng cho khoảng trống, và huệ (lilies) vàng với tuyết tùng (cedar) cho hiểu biết. Những màu sắc tạo nên sự hài hòa, sáu yếu tố hợp thành một đơn vị năng động; toàn thể gây ấn tượng về sự hiệp nhất của xác thân và trí tuệ. Đắm mình trong sáng tạo theo lối cắm hoa shogonka là chiêm ngưỡng Phật qua phép ẩn dụ của thiên nhiên.
Khi hoa đã cắm xong, chúng được đặt trong những hốc tường để mọi người chiêm ngưỡng như một loại hình nghệ thuật gợi xúc cảm tâm linh.
Xem thêm bài viết liên quan

Bài viết cùng danh mục