Lịch sử ẩm thực Nhật Bản (P2)

lsattop.jpgTính đặc trưng và hấp dẫn nhất của ẩm thực Nhật Bản có thể được cho là sự thể hiện một cách đầy đủ tính thẩm mỹ trong các món ăn qua các giác quan: thị giác, khứu giác, và vị giác. Có lẽ chính vì thế mà các nhà hàng Nhật Bản ở nước ngoài đã từng là nơi lui tới thường xuyên của những người đang xa nhà, những thương nhân đi công tác dài hạn ở nước ngoài muốn nhớ lại hương vị của quê nhà.


Tính đặc trưng và hấp dẫn nhất của ẩm thực Nhật Bản có thể được cho là sự thể hiện một cách đầy đủ tính thẩm mỹ trong các món ăn qua các giác quan: thị giác, khứu giác, và vị giác. Có lẽ chính vì thế mà các nhà hàng Nhật Bản ở nước ngoài đã từng là nơi lui tới thường xuyên của những người đang xa nhà, những thương nhân đi công tác dài hạn ở nước ngoài muốn nhớ lại hương vị của quê nhà.

Không chỉ thoả mãn tính thẩm mỹ, ẩm thực Nhật Bản còn đáp ứng được nhu cầu về sức khoẻ: ít béo, ít ngọt, và sử dụng nhiều các loại rau đậu, và do đó món ăn Nhật Bản đang ngày càng được phổ biến khắp thế giới. Cũng có thể vì đặc điểm này đã giúp cho người Nhật có tuổi thọ cao. Người Nhật vốn yêu thích sự thay đổi rõ ràng của thời tiết, sống hoà hợp với thiên nhiên bốn mùa và luôn thưởng thức những loại thức ăn mà thiên nhiên mang lại theo từng mùa quanh năm.

1. Nguồn thực phẩm chính: Rau – Cá

lsat1.jpg

Rau:

Rau chiếm tỉ lệ tiêu thụ nhiều trong thực phẩm Nhật Bản. Có thể nói hàng năm, người Nhật tiêu thụ trung bình rau nhiều hơn dân chúng ở các nước công nghiệp: 105,2 ký so với Đức 95,5 ký, Anh 92,8 ký. Rau ở Nhật Bản cung cấp 47,4% tất cả lượng sinh tố A, 59,3% sinh tố C, 18,3% chất canxi, và 19,2% chất sắt. Tất cả tỉ lệ này đều cao hơn của Mỹ hay của Anh, cho thấy tầm quan trọng của rau về dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của người Nhật.

Trở về tìm hiểu đời sống cách đây 5000 năm ở quần đảo Nhật Bản (từ thời Thượng tới Trung Jomon), các nhà khảo cổ đã tìm thấy một số những giống cây được trồng vào thời đó như bầu, egoma, đậu xanh. Ngoài ra cư dân trong khu vực còn hái những loại rau hoang như dưa hoang, hành nobiru, fuki, udo và warabi. Cùng với tiến trình lịch sử, nhiều chủng loại rau được đưa vào Nhật Bản làm phong phú thêm cho món ăn của người Nhật. Ngày nay người Nhật có vô số loại rau để lựa chọn. Người ta lại ăn nhiều rau sống hơn.

Cá:

lsat2.jpg

Với lợi thế về mặt địa lý, Nhật Bản đã được thiên nhiên ưu ái cho một nguồn tài nguyên biển phong phú, nên từ xưa việc nấu nướng đã đề cao tầm quan trọng của hải sản. Thật khó mà tưởng tượng cuộc sống ở Nhật Bản nếu không có hải sản. Các nhà khảo cổ đã khai quật một ụ đất chứa vỏ sò ở tỉnh Kanagawa, gần Tokyo, được cho là ụ đất cổ nhất ở Nhật, và tìm thấy những lưỡi câu và những cây lao móc. Ụ đất, gọi là natsushima kaizuka, cho thấy người Nhật đã sử dụng những công cụ như thế để đánh bắt cá ít nhất là 9.000 năm trước đây.

Ngày nay, mức tiêu thụ hải sản bình quân hàng năm của Nhật đứng hàng thứ tư trên thế giới, tổng cộng khoảng 8,5 triệu tấn. Ngành công nghiệp đánh bắt cá của Nhật đã mang về 6,626 triệu tấn, trị giá 1.986, 8 tỷ Yên. Mặt khác, hải sản nhập khẩu vào Nhật đang gia tăng. Năm 1999, lượng nhập khẩu lên tới 3,416 triệu tấn, trị giá 1739, 5 tỷ Yên, chiếm 26% trong tổng giá trị thương mại quốc tế về hải sản, biến Nhật Bản thành thị trường hải sản lớn nhất về thế giới. Năm mặt hàng hải sản hàng đầu được nhập vào Nhật Bản la cá ngừ, tôm, cá hồi, cá tuyết và cua.

lsat3.jpg

Các đầu bếp Nhật Bản có rất nhiều cách để làm các món ăn bằng cá và các loài sò ốc như từ món sống sashimi, kho, nấu, nướng, chiên giòn như tempura…Hải sản giờ đây đã trở thành món ăn thường ngày của gia đình người Nhật. Một người Nhật Bản từng nói rằng, nhìn trên mâm cơm của Nhật Bản, ta có thể liên tưởng đến “có một chút gì đó của núi, và một chút gì đó từ biển cả”. Núi tượng trưng cho các loại rau cùng với món chính là gạo. Biển không gì khác hơn đó là nguồn hải sản, nhất là cá vì cũng giống như tổ tiên của họ từ nhiều thế kỷ trước, người Nhật rất thích ăn cá. Ebisu và Daikoku là hai vị thần trong số bảy vị thần may mắn (shichi fukujin), và cả hai đều được thờ cúng tại các nhà bếp. Ebisu là thần đánh cá, còn Daikoku là thần lúa gạo. Những dịp lễ hội được kỷ niệm bằng việc ăn cá tráp biển hoặc trai, và mỗi vùng chế biến các món hải sản ngon miệng theo cách độc đáo của mình.

2. Món ăn ưa thích: Mì

Mặc dù gạo là nguồn tinh bột chính, nhưng người Nhật lại rất thích ăn mì. Mì Nhật Bản có nhiều loại khác nhau, từ loại udon (làm bằng bột mì) to bản đến loại soba (làm bằng kiều mạch) nhỏ xíu. Ramen (mì Trung Hoa) cũng rất phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ. Mì hầu như trở thành món ăn quốc hồn quốc tuý của Nhật Bản.

lsat4.jpg

lsat5.jpg

Ramen có nguồn gốc từ Trung Hoa, trước đây gọi là chuka-soba (mì Trung Hoa), được người Nhật biết đến vào những năm 1910. Có nhiều giả thuyết về từ ramen, có thể nó được bắt nguồn từ chữ Hán “ra” và “men” có nghĩa là “kéo dài” và “mì”. Ramen là một món ăn đơn giản, gồm mì với nước lèo có hương vị xì dầu, bên trên xếp xá xíu, chả cá naruto, măng muối chua, và rau.

Mì soba xuất hiện lần đầu tiên vào giữa thập niên 1500. Đến khoảng thập niên 1600, khắp nơi trên Nhật Bản ăn món mì này. Mì soba với các món soba hấp (mushi-soba), là bữa ăn nhẹ và nhanh chóng được phổ biến. Mushi-soba được làm bằng cách luộc mì lên, rửa nhanh bằng nước ấm, sau đó đem hấp trong thùng làm bẵng liễu gai.

lsat4.jpg

Ngoài ra còn có loại mì mori-soba (rửa qua nước lạnh sau khi luộc, rồi đặt trên một cái tráp nan tre) và món mì kake-soba (mì bỏ trong tô lớn có đổ nước dùng nóng lên trên). Gần đây còn có loại mì tane-mono (mì với một miếng tempura, đậu hũ mỏng chiên vàng, các loại rau dai, thịt.

 

(còn tiếp)

Theo Mandy World

 

Xem thêm bài viết liên quan

Bài viết cùng danh mục