Ogura Hyakunin Isshu – Bách Nhân Thi

 Hyakunin Isshu (百人一首) là tuyển tập 100 bài thơ Tanka . Một tên gọi khác của tuyển tập này là Ogura Hyakunin Isshu vì người sưu tầm chúng là Fujiwara no Teika ( hay Sadaie, 1162 – 1241) , người đã sống ở quận Ogura , Kyoto – Nhật Bản .


Ảnh hưởng của Hyakunin Isshu đối với nền nghệ thuật Nhật Bản nói riêng , nền văn hóa xứ Phù Tang nói chung rất sâu sắc . Điều này được phản ánh trong những trò chơi dân gian , nghệ thuật làm búp bê , nghệ thuật thưởng Hoa ( Hanami ) và Tranh minh họa là một trong số ấy .

100 họa phẩm này là công trình tuyệt vời của David Bull .100 Bản gỗ khắc của 100 họa phẩm được làm từ gỗ anh đào dại Yamazakura , sau đó được in trên giấy gỗ dâu Kozo-washi được gia công tại Quận Fukui ( Fukui Prefecture ) .

David Bull đã hoàn thành 10 bản khắc gỗ ( tương ứng là 10 họa phẩm) một năm , bắt đầu từ năm 1989 … đến cuối năm 1998 , toàn bộ tác phẩm được hoàn thành .

Tác giả bài viết gửi tới mọi người một góc nhìn mới về Hội họa Nhật Bản qua tài năng của nghệ nhân David Bull .

 

 

1. Tenji Tenno

Tenji Tenno hay còn được call là Tenchi Tenno (626-672) là hoàng đế đời thứ 38 của Nhật Bản theo tục cha truyền con nối. Triều đại của ông kéo dài được 10 năm từ năm 661 đến năm 672. Ông có 9 người vợ và 14 người con và là người nổi tiếng với tài thơ phú ^^

Bài thơ trong tranh:

Aki no ta no
Kari ho no iho no
Toma wo arami
Waga koromode wa
Tsuyu ni nure-tsutsu.

Dịch:

Cánh đồng mùa thu
Một đêm ở lại
Mái lều xác xơ
Tay áo tôi ướt
Sương đêm mơ hồ





2. Ono no Komachi

Đã giới thiệu 1 lần về người phụ nữ tài sắc vẹn toàn này rùi ^^ (trong bức số 23 của bộ tranh 36 Quỷ Thần của Yoshitoshi). Ono no Komachi (825-900) là biểu tượng sắc đẹp của phụ nữ Nhật Bản thời Heian, bà xếp thứ 12 trong danh sách Sanjūrokkasen – Tam thập lục ca tiên (36 nhà thơ bất hủ).

Bài thơ trong tranh:

Hana no iro wa
Utsuri ni keri na
Itazura ni
Waga mi yo ni furu
Nagame seshi ma ni.

Dịch:

Anh đào ơi
Nhan sắc phai rồi
Hư ảo mà thôi
Tôi nhìn thăm thẳm
Mưa trên đời tôi





3. Dainagon Tsunenobo

Tsunenobu là thành viên của dòng họ Minamoto, ông là 1 trong những thi sĩ nổi tiếng nhất vào thế kỉ thứ 11. Ông mất vào năm 1096.

Bài thơ trong tranh:

Yūsareba
Kado-da no inaba
Otozurete
Ashi no maroya ni
Aki kaze zo fuku.

Dịch:

Ngày tàn
Thu đến
Quanh vườn
Nhè nhẹ
Lều tranh





4. Semi Maru

Semi Maru là con trai của hoàng đế Uda (888-897), nhưng do bị mù nên ông ko thể lên ngai vàng. Ngày xưa những người mù bị xem là 'thứ' xui xẻo nhất >"< nên dù có là hoàng tử, Semi Maru cũng bị mọi người khinh rẻ, ông rời cung điện đến sống tại 1 túp lều nhỏ ở Osaka. Về sau, Semi Maru trở thành 1 nhạc sĩ nổi tiếng của Nhật Bản, tuy mù nhưng ông có thể chơi được nhìu nhạc cụ, trong đó xuất sắc nhất là sáo và đàn biwa (như trong tranh í )

Bài thơ trong tranh:

Kore ya kono
Yuku mo kaeru mo
Wakarete wa
Shiru mo shiranu mo
Ausaka no seki.

Dịch:

Nơi đây ừ nơi đây
Đi về là những ai
Người đến để chia tay
Người quen cùng kẻ lạ
Hội ngộ nhau chốn này





5. Kiyohara no Motosuke

Kiyohara no Motosuke (908–990, 清原元輔) là 1 nhà thơ waka nổi tiếng thời Heian, ông xếp thứ 28 trong danh sách Sanjūrokkasen – Tam thập lục ca tiên (36 nhà thơ bất hủ). Ông là tác giả của rất nhìu tập thơ xuất sắc.

Bài thơ trong tranh:

Chigiriki na
Katami-ni sode wo
Shibori-tsutsu
Sue no Matsu-Yama
Nami kosaji to wa.

Dịch:

Tay áo đẫm lệ
Ta chung lời thề
Tình yêu bất tử
Dù sóng dâng phủ
Đồi thông Sue

I


6. Oe no Chisato


Oe no Chisato là con trai của 1 nhà thơ nổi tiếng. Ông được biết đến như 1 nhà triết học và đóng vai trò là người giám hộ của Hoàng đế Sei (859-876 sau CN)

Bài thơ trong tranh:

Tsuki mireba
Chiji ni mono koso
Kanashi kere
Waga mi hitotsu no
Aki ni wa aranedo.

Dịch:

Khi tôi nhìn trăng
Nghìn điều vương vấn
Sầu đau ngỡ ngàng
Dù thu đâu phải
Một mình tôi mang




7. Chunagon Asatada

Bài thơ trong tranh:

Au koto no
Taete shi nakuba
Naka naka ni
Hito wo mo mi wo mo
Uramizaramashi.

Dịch:

Nếu không gặp nhau
Trái tim đâu phải
U sầu
Hẹn hò rồi sẽ
Để lại niềm đau





8. Taiken moin no Horikawa

Bài thơ trong tranh:

Nagakaran
Kokoro mo shirazu
Kuro kami no
Midarete kesa wa
Mono wo koso omoe.

Dịch:

Em đâu biết
Lòng anh
Sáng chia tay
Tóc mai rối
Hồn phiêu diêu.





9. Sarumaru Dayu

Bài thơ trong tranh:

Oku yama ni
Momiji fumi wake
Naku shika no
Koe kiku toki zo
Aki wa kanashiki.

Dịch:

Nghe tiếng nai
Âm trong núi thẳm
Lướt trên lá đỏ
Mà qua đêm dài
Sầu thu ghê thay





10. Dainagon Kinto

Bài thơ trong tranh:

Taki no oto wa
Taete hisashiku
Narinuredo
Na koso nagarete
Nao kikoe kere.

Dịch:

Còn đâu rì rào
Âm thanh dịu mát
Dòng thác ngày xưa
Nhưng ai cũng nhắc
Nhớ bao nhiêu mùa



11. Koko Tenno


Bài thơ trong tranh:

Kimi ga tame
Haru no no ni idete
Wakana tsumu
Waga koromode ni
Yuki wa furi-tsutsu.

Dịch:

Trên đồng mùa xuân
Vì ai lặn lội
Đi tìm rau thơm
Thế rồi tay áo
Lệ rơi ướt đầm





12. Sei Shonagon

Bài thơ trong tranh:

Yo wo komete
Tori no sorane wa
Hakaru tomo
Yo ni Ausaka no
Seki wa yurusaji.

Dịch:

Bắt chước
Tiếng gà gáy
Để vào ban mai
Trước cổng hội ngộ
Biết làm sao đây





13. Abe no Nakamaro

Bài thơ trong tranh:

Ama no hara
Furisake-mireba
Kasuga naru
Mikasa no yama ni
Ideshi tsuki kamo.

Dịch:

Vầng trăng ngà
Bên trời mới mọc
Thương nhớ quê nhà
Một vầng trăng cũ
Miền Kasuga




14. Saigyo Hoshi

Bài thơ trong tranh:

Nageke tote
Tsuki ya wa mono wo
Omowasuru
Kakochi-gao naru
Waga namida kana.

Dịch:

Lẽ nào trăng bảo
Hãy sầu lên đi
Và trăng hư ảo
Bắt đầu hắt xuống
Lệ buồn trên mi





15. Kakinomoto no Hitomaro

Bài thơ trong tranh:

Ashibiki no
Yamadori no o no
Shidario no
Naga-nagashi yo wo
Hitori ka mo nemu.

Dịch:

Một mình tôi ngủ
Trong suốt đêm thâu
Đêm dài dằng dặc
Như đuôi chim trĩ
Trong đồi núi sâu




16. Chunagon Yatsutada


Bài thơ trong tranh:

Ai-mite no
Nochi no kokoro ni
Kurabureba
Mukashi wa mono wo
Omowazari keri.

Dịch:

Ngày xưa
Trước khi gặp nàng
Còn nhớ
Thâm tâm
Không chút lệ sầu





17. Minamoto no Toshiyori Ason

Bài thơ trong tranh:

Yama zato wa
Fuyu zo sabishisa
Masari keru
Hito-me mo kusa mo
Karenu to omoeba.

Dịch:

Vào giữa mùa đông
Ngôi làng trên núi
Âm u vô hồn
Cỏ cây tàn tạ
Con người héo hon




18. Ise no Taifu

Bài thơ trong tranh:

Naniwa gata
Mijikaki ashi no
Fushi no ma mo
Awade kono yo wo,
Sugushite yo to ya.

Dịch:

Bên đầm Naniwa
Những đốt vi lau
Ngắn như cuộc hẹn hò
Thế mà đời ta chẳng
Một lần tình hẹn nhau




19. Kotai Gogu no Daibu Shunzei

Bài thơ trong tranh:

Yo no naka yo
Michi koso nakere
Omoi iru
Yama no oku ni mo
Shika zo naku naru.

Dịch:

Ơi niềm đau
Không đường thoát
Dù núi sâu
Cùng ẩn dật
Nai tác sầu






20. Sangi Hitoshi

Bài thơ trong tranh:

Asajū no
Ono no shinowara
Shinoburedo
Amarite nado ka
Hito no koishiki.

Dịch:

Bụi trúc nhỏ nhoi
Ẩn mình trong cỏ
Tình yêu của tôi
Bỗng dưng lớn dậy
Giấu sao được người




21. Gotoba no In


Bài thơ trong tranh:

Hito mo oshi
Hito mo urameshi
Ajiki-naku
Yo wo omou yue ni.
Mono omou mi wa.

Dịch:

Người xưa đáng quí
Buồn chuyện hôm nay
Những ai đang sống
Đâu hy vọng nào
Chỉ là đắng cay





22. Nijo in no Sanuki

Bài thơ trong tranh:

Waga sode wa
Shiohi ni mienu
Oki no ishi no
Hito koso shirane
Kawaku ma mo nashi.

Dịch:

Như đá
Trước thủy triều
Ánh mắt
Đẫm lệ sầu
Làm sao khô





23. Ki no Tomonori

Bài thơ trong tranh:

Hisakata no
Hikari nodokeki
Haru no hi ni
Shizu kokoro, naku
Hana no chiruramu.

Dịch:

Bầu trời bình an
Một ngày trong sáng
Sao xuống trần gian
Tâm tư phiền muộn
Hòa Đào lang thang





24. Shun-e Hoshi

Bài thơ trong tranh:

Yomosugara
Mono omou koro wa
Ake yarade
Neya no hima sae
Tsurena kari keri.

Dịch:

Đêm không ngủ
Buồn không vơi
Đời chán ghét
Như tấm liếp
Che mặt trời.





25. Harumichi no Tsuraki

Bài thơ trong tranh:

Yama gawa ni
Kaze no kaketaru
Shigarami wa
Nagare mo aenu
Momiji nari keri.

Dịch:

Con suối sáng ngời
Ai đưa lá đỏ
Ngăn dòng nước trôi
Đấy là cơn gió
Ngăn dòng nước trôi.




26. Ariwara no Narihara son


Bài thơ trong tranh:

Chi haya furu
Kami yo mo kikazu
Tatsuta gawa
Kara kurenai ni
Mizu kuguru to wa.

Dịch:

Ôi dòng sông Ta
Nhuốm màu lá đỏ
Dường như trong mơ
Cả thần linh một thuở
Cũng không thấy bao giờ




27. Ryozen Hoshi

Bài thơ trong tranh:

Sabishisa ni
Yado wo, tachi-idete
Nagamureba
Izuko mo onaji
Aki no yūgure.

Dịch:

Khi tôi rời am
Đi quanh âm thầm
Nhưng đâu cũng thấy
Một niềm cô tịch
Chiều thu mênh mang.





28. Akazome Emon

Bài thơ trong tranh:

Yasurawade
Nenamaji mono wo
Sayofukete
Katabuku made no
Tsuki wo mishi kana.

Dịch:

Nếu như tôi biết
Người đã sao lời
Để hận trong tôi
Cần chi thức trắng
Trăng tàn lẻ loi.





29. Sangi Masatsune

Bài thơ trong tranh:

Miyoshino no
Yama no aki kaze
Sayo fukete
Furu sato samuku
Koromo utsu nari.

Dịch:

Thu lạnh
Trên đỉnh Yoshino
Thổi xuống làng
Ai đạp vải
Âm vang.




30. Teishin Kou

Bài thơ trong tranh:

Ogura yama
Mine no momiji-ba
Kokoro araba
Ima hito tabi no
Miyuki matanamu.

Dịch:

Trên núi Ogura
Ơi lá phong đỏ
Từng chờ người xa
Bây giờ xa giá
Lá rơi bao giờ.




31. Yamabe no Akahito


Bài thơ trong tranh:

Tago no ura ni
Uchi-idete mireba
Shirotae no
Fuji no takane ni
Yuki wa furi-tsutsu.

Dịch:

Bờ biển Tago
Ta nhìn lên núi
Fuji ơi
Một màu trinh bạch
Tuyết buông xuống đời




32. Ise

Bài thơ trong tranh:

Naniwa gata
Mijikaki ashi no
Fushi no ma mo
Awade kono yo wo,
Sugushite yo to ya.

Dịch:

Bên đầm Naniwa
Những đốt vi lau
Ngắn như cuộc hẹn hò
Thế mà đời ta chẳng
Một lần tình hẹn nhau.





33. Fujiwara no Sanekata Ason

Bài thơ trong tranh:

Kaku to dani
Eyawa Ibuki no
Sashi-mogusa
Sashimo shiraji na
Moyuru omoi wo.

Dịch:

Người làm sao biết
Trái tim này
Một ngọn lửa cháy
Vì ai?
Muôn đêm muôn ngày.





34. Noin Hoshi

Bài thơ trong tranh:

Arashi fuku
Mimuro no yama no
Momiji-ba wa
Tatsuta no kawa no
Nishiki nari keri.

Dịch:

Dường như gió thổi
Từ trong núi ra
Lá hồng mê mải
Trôi như gấm trải
Theo lòng sông xa.





35. Kiyohara no Fukayabu

Bài thơ trong tranh:

Natsu no yo wa
Mada yoi nagara
Akenuru wo
Kumo no izuko ni
Tsuki yadoruramu.

Dịch:

Chiều đang tan
Vào đêm mùa hạ
Trong làn mây nổi
Một vầng trăng
Trên đường thiên lý.

I

  (Sưu tầm)

 

Xem thêm bài viết liên quan

Bài viết cùng danh mục